Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

Hương ước của một làng cổ ở Hải Dương (3)




Vệ sinh

Điều thứ 46

          Rác lớn, súc vật chết hay là các uế vật khác thì cấm không được vứt ra đường đi, không được vứt xuồng sông ngòi và nhất là không được vứt xuống ao hay giếng nước ăn, ai không tuân thì phải phạt 0,20 đồng.

Điều thứ 47

          Nếu trong làng phát ra chứng bệnh truyền nhiễm hay là toi súc vật thì thân nhân người bệnh hay là người có súc vật toi phải tường Hương lý để trình quan trên định liệu cách đề phòng, ai không tuân mà giấu giếm thì không những bị tội mà lại còn bị phạt từ 0,50 đén 1,00 đồng nữa.

Điều thứ 48

          Khi có người nào chết vì bệnh truyền nhiễm thì Hương lý phải hiểu bảo cho tang gia chôn cất ngay không được để lâu.

Điều thứ 49

          Nếu quan trên có lệnh sức chỉ bảo cách đề phòng những bệnh truyền nhiễm thì Hương lý và tuần tráng phải săn sóc ai nấy đều tuân hành y thuật

Điều thứ 50

          Nếu trong làng có người nào mắc bệnh điên thành nguy hiểm cho dân làng thì lý dịch phải giải trình quan trên xét cho đi nhà thương điều trị.

Điều thứ 51

          Nếu trong làng có người nào mắc bệnh phong thì lý dịch cũng phải giải trình quan trên xét. Nếu người mắc bệnh phong được phép ở nhà điều dưỡng thì Hương lý phải trông coi đừng để cho người bệnh giao dịch với dân làng để khỏi truyền nhiễm.

Kiện cáo

Điều thứ 52

          Trong làng ai có kiện cáo về dân sự hay thượng sự thì trước hết phải trình Hương lý hòa giải.

Điều thứ 53

          Khi Chánh Hội tiếp ai trình thì lập Hội đồng để hòa giải hai bên, nếu hòa giải xong thì giao lý trưởng lập biên bản trình quan sở tại.

Điều thứ 54

          Nếu hòa giải bất thuận mà Hương hội vì nguyên bị phải đi làm chứng trước tòa thì người thua kiện phải đền tiền lộ phí.

Điều thứ 55

          Trong làng cấm không ai được cãi cọ đánh đấm nhau, ai gây sự cãi cọ đánh đấm nhau thì phải phạt 0,20 đồng.

Điều thứ 56

          Nếu cãi cọ đánh đấm nhau to tát thì Hương Hội lập biên bản giải trình quan trên xét xử.

Ngụ cư và ký táng

Điều thứ 57

          Chỉ những người có căn cước minh bạch và nghề nghiệp đích đáng thì mới được ngụ cư trong làng.

Điều thứ 58

          Người ngụ cư thì phải nộp vào công quỹ một số tiền để đăng tịch. Nếu không cho vào việc làng hàng năm thì không phải nộp.

Điều thứ 59

          Người thiên hạ mà muốn ký táng ở đồng điền của làng, dù mua đất tư của ai cũng mặc thì cũng phải xin phép Hương lý trước đã và phải nộp tiền kiểm cố vào công quỹ là 3,00 đồng.

Điều thứ 60

          Ai trước ký tàng mà nay cải táng cũng phải trình hương lý biết, nếu không thì phải phạt 0,50 đồng.

Phường, họ, hội thóc, hội tiền để tự giúp nhau

Điều thứ 61

          Những phượng họ hội thóc, hội tiền để cho vay hay tự giúp nhau…nếu các chân hội không quá 19 người thì có thể tự họ thành lập và hành động như thường. Những cái hội, trưởng hội, trưởng phường cùng các chân hội phải kê tên các người trong phương trong hội đưa tường Hương lý biết đại khái mục đích cách hành động của phường hội thế nào. Nếu dự kiến lập hội đông quá 19 người thì phải thảo điều lệ xin phép đưa quan trên duyệt y thì mới được thành lập và hành động.

Phần thứ hai

CÁC TỤC LỆ RIÊNG

Hôn lễ

Điều thứ 62

Cưới xin ngày trước có 6 lễ, nay chỉ theo có 3 lễ:
1.     Lễ vấn danh hay còn gọi là lễ Dạm vợ. Lễ này là lần đầu hai bên cha mẹ hội kiến để nói chuyện và để so sánh tên tuổi, ngày sinh tháng đẻ của con mà định việc hôn nhân của đôi trẻ. Lễ vật thì hoặc chè cau bánh trái đáng giá độ vài ba đồng.
2.     Lễ ăn hỏi hôm này thì nhà trai cho chú rể cùng bà con sính lễ sang nhà gái. Hôm ấy chú rể đi lễ nhà thờ  cùng là ra mắt họ hàng nhà vợ, hai bên thông gia định ngày cưới và thách cưới. Lễ vật thì tùy theo nhà giầu nghèo nhưng đáng giá từ 3,00 đến 20,00 đồng
3.     Lễ cưới; Hôm đó chú rể đi cùng ông thân sinh và bà con mang sính lễ cùng tiền nong sang nhà gái đón dâu. Bên nhà gái cũng cho bà con đem dâu về nhà chồng. Lễ vật và tiền nong thì tùy tho nhà giầu nghèo nhưng tất cả đáng độ từ 10,00 đến 20,00 hay 30,00 đồng.

Điều thứ 63

          Chăng dây đám cưới thì cấm chỉ, ai không tuân hoặc thủ xướng hoặc can phạm thì phải phạt 5,00 đồng vì đã phạm đến mỹ tục của làng.

Điều thứ 64

          Trước hôm cưới 5 ngày thì hai bên thông gia phải nộp cheo vào quỹ. Cheo nội, cheo ngoại từ 0,50 đến 5,00 đồng. Hai bên thông gia còn phải theo lệ luật mà khai giá thú cho con với thư ký hộ tịch.

Điều thứ 65

          Trong làng ai thông dâm đàn ông hoặc đàn bà thì phải phạt 2,00 đồng mà còn phải bị truy tố không kể.

Điều thứ 66

          Người nào có con gái chửa hoang thì phải phạt 3,00 đồng, bố mẹ người thông gian cũng phải phạt như người có con gái. Thông gian lại có thể bị truất ngôi thứ  trong hai năm.

Tang lễ

Điều thứ 67

          Các tục bắt buộc tang gia phải cỗ bàn mời dân ăn khi cha mẹ về già thì nay cấm chỉ.

Điều thứ 68

          Nhưng tang gia thì được tùy ý làm cỗ bàn đãi thân bằng cố hưu đến đưa đám hay thăm viếng chứ không ai cấm đoán hoặc bắt buộc gì cả.

Điều thứ 69

          Kỳ lý hoặc dân lành ai mà hạch schs tang gia sửa cỗ bàn xem xét quả thực thì phải phạt 3,00 đồng và phải truất ngôi thứ trong 2 năm.

Điều thứ 70

          Ai có cha mẹ về già thì tùy ý xếp đặt các lễ nghi trong nhà như lễ thành phục, tế ngu vân vân…cũng tùy ý tang gia hoặc mới giáp gốc mình hoặc mới cả làng đưa đám cũng được. Khi ấy thì tùy theo hoặc trong giáp hoặc hương hội phải cắt phu được trợ cônghay đồ tùy để đi hộ tống cho. Nhưng người nghèo không thể mời giáp, mời làng thì cùng tùy ý mà bà con bạn hữu đưa với nhau.

Điều thứ 71

          Lệ đám ma thì định như sau: hạng nhất: 10, 00 đòng, hạng nhì 5.00 đồng, hạng ba 2,00 đồng. Ai mời làng thì đưa hạng nhất, ai mời lại ba giáp thì nộp hạng nhì, ai mời giáp gốc mình thì nộp hạng ba. Nhưng người nghèo thì được miễn tiền nộp lệ. Tùy theo từng lệ nhất, nhì, ba  ai nộp hạng nào thì hoặc hàng giáp, hoặc hai, ba giáp hoặc Hương Hội, kỳ Dịch phải đi đưa đám cho được trọng thể.

Điều thứ 72

          Khi có người nào chết thì trong ba ngày phải chôn. Nếu chết về bệnh truyền nhiễm thì nội nhật phải chôn ngay.

05/10/2015
Đỗ Đình Tuân
(còn nữa)

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015

Hương ước của một làng cổ ở Hải Dương (2)


                                                 Chợ Vàng thôn Hoàng Xá



Trách nhiệm của Lý dịch và Tuần tráng

Điều thứ 24

          Cứ chậptối thì lý trưởng hoặc phó lý, Trương tuần hay đầu mục động hiệu lệnh trống mõ để gọi tuần ra điếm canh giờ. Tên tuần nào khiếm khoáng thì phải phạt 0,10 đồng

Điều thứ 25

          Tuần tráng phải chịu trách nhiệm các việc trộm cắp xẩy ra ở trong làng và ngoài đồng. Như trong làng có người nào mất trộm mà tuần tráng không xét ra được can phạm thì phải chiểu giá các đồ vật đã mất mà đền cho chủ sự một nửa. Khi phát xuất ra việc cướp trộm mà tuần tráng đã hết sức chống cự cùng quân gian thì được tha thứ.

Điều thứ 26

          Nhưng Lý dịch (Lý trưởng, Phó lý hay Trương tuần) cũng phải chịu trừng phạt và đền tiền như tuần tráng về các việc trộm cướp xảy ra trong địa hạt mình. Lý dịch trễ nải việc canh phòng thì quan trên sẽ nghiêm phạt.

Điều thứ 27

          Khi phát xuất ra trộm cướp mà người nào hoặc chức dịch hoặc tuần tráng, hoặc dân đinh bắt được một tên trộm thì làng thưởng 1đồng đến 5 dồng. Bắt được một tên cướp thì làng thưởng  từ 5 đồng đến 20 đồng.

Điều thứ 28

          Tuần tráng lại còn phải trông nom đồng nữa, hễ thấy ai làm hủy liệt đường khuyến nông thì trình hương hội nghĩ phạt 0,20 đồng.

Điều thứ 29

          Cấm không được ai tháo nước, đơm cá để cho ruộng nương khô cạn đi. Nếu ai không tuân thì phải phạt 0,20 đồng. Tuần tráng mà cung túng cho người ta tháo nước để ruộng nương khô cạn thì cũng phải phạt như vậy.

Điều thứ 30

          Ruộng nương đã gieo mạ hay đã cấy lúa rồi thì cấm không ai được chăn vịt, nếu không tuân thì phải phạt 0,50 đồng, nếu vịt phá hại lúa mạ thì lại phải đền sự chủ nữa.

Điều thứ 31

          Khi lúa đã tốt thì cấm không ai được chăn trâu bò ở bờ ruộng hay là dắt trâu bò qua ruộng phá hại mùa màng. Ai không tuân thì phải phạt 0,20 đồng mà còn phải đền cho người có lúa nữa.

Việc canh phòng đường đi, cầu cống, công sở

Điều thứ 32

          Tuần tráng phải trông coi đê đường, cầu cống, sông ngòi. Chỗ nào khuyết liệt thì trình Hương Hội sửa chữa. Chúng phải ngăn giữ đừng để cho ai hoặc súc vật làm hại đê, đường, đừng cho ai đào cuốc thân đê, đừng để cho ai đào đắp sông ngòi lại để đánh cá, làm cho nước không thông. Ai không tuân thì phải phạt 0,20 đồng.

Điều thứ 33

          Ai cần tát nước qua đường thì phải xin phép Hương Hội trước rồi mới được ẻ đường, tát xong lại phải đắp lại như cũ, không thì phải phạt 0,20 đồng.

Điều thứ 34

Tuần tráng phải ngăn giữ đừng để cho người hay vật phá hại cây cối trồng hai bên đường, canh giữ đồ đạc để ở đình chùa, nhà Hội đồng, nhà trường hay các công sở khác, ngăn cấm đừng để ném đá lên tầu và các xe máy khác hay là xếp đá lên đường sắt hay canh giữ đừng để  xảy ra trộm cắp dây nói.
Ai can phạm thì tuần tráng tường ngay Hương Hội để trình quan trên cứu xét. Quan trên xét phạt đi rồi về làng những tên can phạm ấy lại còn phải truất hết ngôi thứ đình chung từ 1 đến 3 năm.

Canh phòng về việc chính trị và trị an

Điều thứ 35

Tuần tráng và nhất là Hương lý phải trông coi rất cẩn thận những người bị quản thúc, những đứa bất hảo thành tích, những đứa can án  và nhất là những người cố ý phản nghịch.
Nếu người nào bị quản thúc chưa hết hạn  đã bỏ trốn thì Hương lý phải trình quan trên xét.
Nếu trong làng có những đứa bất hảo thành tích hay những đứa can án thì hương lý phải xem xét cách hành động của nó hễ thấy chúng làm điều gì khác ý thì phải trình quan trên biết.

Điều thứ 36

Hương lý và Tuần tráng phải kiểm soát căn cước của những người lạ mặt đến làng, người nào không có kẻ tùy thân hay là căn cước…thì phải giải trình quan trên xét.
Kiểm soát xong các điều của người lạ mặt phải biên vào một quyển sổ gọi là sổ kiểm soát những người lạ mặt đến làng.

Cấp cứu

Điều thứ 37

          Khi khẩn cấp như là thủy, hỏa, đạo, tặc thì trừ những người dưới 16 tuổi và ngoài 60 tuổi, còn tuần tráng và nhân đinh nghe đọng hiệu đều phải ra ứng cúu, nếu không thì phải phạt từ 0,50 đến 2,00 đồng và phải truất thứ nơi đình trung từ 1 đến 3 năm. Trước hết phải cứu những người bị nạn, trông nom của cải cho họ, hết sức ngăn ngừa sự tai nạn (thủy, hỏa, đạo tặc) khỏi lan ra.

Điều thứ 38

Khi xảy ra các tai nạ này khác (như là nạ ô tô, nạ tầu thủy đắm thuyền chết đuối…) thì tuần tráng hoặc dân làng ai trông thấy phải lập tức ra cấp cứu người bị nạ rồi liền cho tường Hương lý để họ trình quan liêu xem có cần liệu định các cách.
Tuần tráng hay dân đinh ai trông thấy tại nạ gì xẩy ra mà không đến cấp cứu hay không báo Hương lý biết thì phải phạt từ 0,50 đến 2,00 đồng và phải truất ngôi thứ đình trung từ 1 đến 3 năm vì đã trái nhân đạo.

Điều thứ 39

          Ai vì cấp cứu nhà cháy hoặc đánh cướp … mà bị thương thì làng cấp tiền thuốc cho , bị thương thành tật thì làng cấp cho từ 20,00 đến 50,00 đồng và cho lên một vị thứ, nếu không may đến nỗi chết thì làng cấp cho vợ con tiền tử tuất từ 50,00 đến 100,00 đồng và các kỳ lý đều phải đi đưa đám.

Lương Tuần tráng

Điều thứ 40

Tuần tráng thì cấp lương mỗi tháng 2,00 đồng (lương tiền hay lúa sương) mỗi mấu là…bất phân nội canh hay phụ canh. Nếu cấp lương tiền thì mỗi năm hai kỳ tháng 5 và tháng 10 các điền chủ phải nộp cho thủ quỹ hay trương tuần để phát lương cho tuần tráng.
Làng có thể cho Tuần tráng vị thứ để thay vào lương cũng được.

Ngăn cấm gian lận và các việc phi pháp khác

Điều thứ 41

Những sự gì mà nhà nước có lệnh cấm như là rượu lậu, thuốc phiện lậu, cò bạc vân vân thì Hương lý và Tuần tráng phải ngăn trừ.

Điều thứ 42

          Nếu thấy ai làm điều gì phi pháp thì hương lý tịch biên tang vật, lập biên bản giải trình quan trên trừng phạt. Những người can phạm về làng còn phải truất ngôi thứ đình trung từ 1 đến 3 năm vì đã làm tổn thất danh dự của làng.

Điều thứ 43

Hương lý và Tuần tráng phải bắt giải  những người ngoaì chực đem rượu lậu hay thuốc phiện lậu vào trong làng.

Điều thứ 44

          Kỳ lý hay Tuần tráng  mà dung túng cho người ta làm điều phi pháp hay là biết mà không tố cáo thì phải phạt từ 1,00 đến 3,00 đồng và truất ngôi thứ từ 1 đến 3 năm.

Điều thứ 45

          Hương lý còn phải xem xét trong làng hoàng đinh nào đáo tuế thì kê khai vào sổ đóng sưu. Kỳ lý nào ẩn lậu đinh thì quan trên trừng phạt đã đành, về làng còn phải truất ngôi thứ từ 1 đến 3 năm.

05/10/2015
Đỗ Đình Tuân
(còn nữa)

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Hương ước một làng cổ ở Hải Dương (1)



       
Bia đá hình vuông lập năm Mậu Tý 1708, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 4 ghi 72 vị khoa bảng có chức vị của làng

                

              HƯƠNG ƯỚC CỦA LÀNG HOÀNG XÁ
         (Xã Quyết Thắng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương – năm 1938)


Phần thứ nhất

CÁC ĐIỀU LỆ VIỆC CHÍNH TRỊ TRONG LÀNG

Điều thứ 1

Việc chính trị trong làng thì phải tuân theo các nghị định quan thống sứ Bắc Kỳ hiện thi hành về việc cải lương hành chính. Những nghị định ấy ấn định cách cắt cử tộc biểu và kỳ mục, cách hành động của những chức vụ của Hội đồng Hương Chính và Hội đồng Kỳ mục cùng là chức vụ của phó lý trưởng nữa.

Sổ thu chi

Điều thứ 2

Thi hành cho những làng có thu chi
Những khoản thu và những khoản chi trong làng hàng năm thì phải cho vào một quyển sách chi thu.
Cách lập sổ chi thu, cách bàn định các khoản, cách duyệt y và việc thi hành sổ chi thu thì phải chiểu nghị định quan trên mà thi hành.
Thi hành cho những làng không có sổ chi thu.
Làng không có sổ chi thu chính thức nhưng chánh hội hay lý trưởng tùy khi phải giữ một quyển nhật ký để ghi chép các khoản chi trong làng hàng năm. Quyển sổ ấy phải có chữ quan bản hạt ghi số và ký tên từng tờ. Cứ đến cuối năm thì chánh hội phải họp Hội đồng trình sổ rồi đư viên chánh hội kỳ mục xem.

Tiền lộ phí

Điều thứ 3

Tiền lộ phí của Hương hội hay Tổng lý đi việc quan thì làng phải chịu và theo lệ sau này:
1.     Đi việc quan trong vòng 5 cây số thì được lệ phí
2.     Nếu đi ngoài vòng ấy thì mỗi ngày được 0,2 đồng và tiền lệ phí 0,01 đồng cây số vừa đi vừa về.
3.     Đi việc quan trong địa phận làng mình hay là đi đâu mà không có lệnh quan trên sức thì không được lĩnh tiền lệ phí.

Bổ sưu thuế

Điều thứ 4

Khi lý trưởng tiếp được mức thuế thì phải tường chánh hội biệt để Hội đồng quân bổ.

Điều thứ 5

Sưu thuế đã có ngạch của nhà nước. Hương hội phải theo đúng…mà quân bổ không được phân biệt đàn anh đàn em, ruộng nội canh hay ngoại canh mà bổ nhiều hay ít không đều.

Điều thứ 6

          Trong kỳ hội đồng ấy thì hội đồng còn bàn tính xem thu những thứ thế gì cho làng (như thuế trâu bò nhà cửa…và khoản tiền ngoại phụ thu vào quỹ làng xã là bao nhiêu để chi các việc hàng năm như là lương lý trưởng, trương tuần, tiền lộ phí, tiền giấy bút…

Điều thứ 7

          Trong bài bổ phải ghi rõ mỗi xuất phải chịu bao nhiêu thuế…bao nhiêu thuế điền thổ hay các thuế khác thành tiền, bao nhiêu không được làm…cả vụ thuế cho mọi người cùng biết.

Điều thứ 8

Khi bổ thuế xong thì lý trưởng hay phó lý trưởng hoặc tuần phu phải chức phận mà hành thu sưu thuế.
Phó lý hay các tuần phu thu được bao nhiêu phải giao cho lý trưởng đi nộp kho bạc. Khi giao tiền cho lý trưởng phải lấy biên lai làm bằng, nếu lý trưởng…thì trong phần thu người nào…đứng nhận tiền nộp kho bạc.
Thu khoản gì phải có biên lai răng cưa làm bằng. Trong biên lai thì kê đúng các khoản thuế như trong quân bổ.

Điều thứ 9

Muốn khỏi những sự nhũng nhiễu thì trong kỳ hạn thu thuế, các chức dịch hành thu phải ra tại đình hoặc một nơi công sở mà thu thuế chứ không được thu ở nhà. Hết hạn mà còn có người không ra tại đình hay nơi công sở để nộp thuế thì các phần thu có thể đến tận nhà người ấy mà dóc thu.
Kỳ hạn thu thuế từ ngày nào đến ngày nào thì phải chua rõ vào trong bản bổ và cho mõ rao để mọi người đều biết.

Điều thứ 10

          Những người nào tuy có thể nộp được mà bỏ khiếm sưu thuế thì hương lý trình quan kết nghĩ. Những người bỏ thiếu thuế sẽ không được dự tế tự trong hai năm, song những tộc biếu hay thân nhân những người ấy vẫn phải chịu trách nhiệm nộp đậy số thuế bổ thiếu.

Điều thứ 11

Lại còn những đứa cùng đinh bỏ làng đi tha phương cầu thực không nộp thuế. Sỗ thuế của hạng này thì cả làng phải chịu trách nhiệm mà phải đem san bổ cho các nhân đinh ở làng cùng chịu. Những hạng này thì mất hết nơi ăn chốn ngồi trong làng
Khi nào họ về làng thì họ phải nộp giả vào công quỹ số thuế bỏ thiếu mà trong khi tha vãng làng đã san thu cho họ, vả lại họ muốn chuộc lại nơi ăn chốn ngồi như trước thì phải nộp 2 đồng.

Điều thứ 12

          Trong khi bổ thuế thì cấm Hương Hội không được bày đặt ra ăn uống để dân đinh phải đóng góp nặng thêm ra.

Điều thứ 13

          Khi bổ thuế thì phải mới cả Hội đồng Kỳ Mục hội bàn quân bổ.

Việc tuần phòng trong làng và ngoài đồng
Mục đích tuần phòng

Điều thứ 14

Tuần phòng là cốt để giữ trật tự và sự trị an trong làng, giữ cho tính mạng và tài sản cho mọi người. Tuần phòng để ngăn cấm cờ bạc, trộm cướp gian lậu và những sự phá phách khác. Trong khi xảy ra việc gì hoặc thuộc về tội khinh…thì Tuần giờ phải hết sức tuần nã thủ phạm để giải trình quan cứu xét.
Tuần giò phải trông coi cẩn thận những người tình nghi bị quản thúc.
Trong khi thủy hỏa đạo tặc hay các tai nạ khác thì tuần giờ phải ứng cứu ngay.
Tuần giờ phải trông coi đê, đường, cầu, cống cùng các công tác khác của làng, hễ có khuyết liệt chỗ nào thì phải trình chức dịch để sửa chữa hay là xin quan trên để sửa chữa.
Tuần giờ phải săn sóc cả đến việc vệ sinh chung trong làng. Nếu có ai không tuân thể lệ Nhà nước hay không tuân Hương ước mà làm trái phép vệ sinh thì phải trình chức dịch nghĩ phạt. Khi nào có bệnh truyền nhiễm hay là toi súc sản mời quan trên chỉ bảo cách đề phòng thì tuần giờ phải trông coi thi hành được y.

Điều thứ 15

          Việc tuần phòng thì trách cứ vào phu tuần nội hương ấp, ngoại đồng điền đều phải coi cả.

Cắt cử tuần phu

Điều thứ 16

          Phu tuần thì cứ theo lần lượt mà cắt trong những hàng đinh trong làng nghĩa là những người không có vi phạm gì từ 18 tuổi đến 50 tuổi. Phu tuần thì cắt năm một, cứ một nữa thì cát người trẻ tuổi, một nửa thì cắt người nhiều tuổi. Hết hạn thì ai muốn đi nữa cũng được.

Điều thứ 17

          Cứ đến tháng giêng ta thì hương lý hội họp cắt tuần, cắt xong làm thành hai bản danh sách, một bản lưu lại Hội đồng, một bản giao cho lý trưởng đệ trình quan sở tại duyệt y.

Điều thứ 18

          Người nào đến lượt cử tuần mà vì lẽ gì không đi thì có thể nhờ an hem bạn hữu đi thay hoặc là nộp vào công quỹ một tiền canh gác là 10 đồng cũng được.

Điều thứ 19

          Ngạch phu tuần trong làng có 10 người, mỗi điểm ít nhất cũng phải có 5 phu tuần, kể cả đầu mục. Những khi nào canh giờ ngặt (trong vụ thuế hay những tháng củ mật chẳng hạn) thíốtuần phải cắt tăng gấp đôi.

Điều thứ 20

          Khí giới canh phòng thì làng sắm cho tuần.

Điếm canh

Điều thứ 21

          Làng trích tiền công làm hai điếm canh (tùy theo địa thế mà làm to nhỏ). Điếm canh thì hoặc làm bằng gỗ hay bằng tre cũng được nhưng phải cho chắc chắn, xung quanh hào dậu cẩn thận, ngoài cửa treo một cái biển đề rõ tên làng và số điếm.

Điều thứ 22

          Mộ điếm phải có: a. Một cái trống hay mõ để cầm canh hay để báo hiệu. b. các khí giới cần chiến đấu. c. Những đồ dùng cứu hỏa. d. Những đồ dùng cứu hộ thủy.

Hiệu lệnh tuần phòng

Điều thứ 23

          Phu tuần trong làng phải tuân theo hiệu lệnh nhất định. Hiệu lệnh dùng để gọi tuần ra điếm, hoặc để…hoặc để loan báo dân làng…?

04/10/2015
Đỗ Đình Tuân sưu tầm
(Còn nữa)





Không mời cũng họa






Xướng họa với Nhật Thành

Bài thơ không mời, Đỗ Đình Tuân tự lấy làm bài xướng để họa chơi

Muốn lấy chồng 1
(Nguyên tác của Hồ Nhật Thành)

Ừ nhỉ sao ta khép kín phòng?
Tội gì đêm lạnh chịu nằm không?
Kẻ nơi âm giới đà an phận
Người ở dương gian cũng khuây 2 lòng
Nếu nợ ông tơ nay trả hết
Thì duyên bà nguyệt tất xe xong
Mong ai thấu hiểu tình góa 3 phụ
Cứ thế… lăm le nhốt vô 4 tròng!
                         Hồ Nhật Thành

1. Nguyên tác của Hồ Nhật thành không có tựa đề, căn cứ vào tinh thần bài thơ Đỗ Đình Tuân đặt tựa đề cho bài thơ là Muốn lấy chồng
2. Chữ khuây ở vị trí này là thất niêm, phải đổi sang chữ thanh trắc
3. Chữ góa ở vị trí này cũng thất niêm phải đổi sang chữ thanh bằng
4. Chữ vô ở vị trí này lại cũng thất niêm phải đổi sang chữ thanh trắc

Muốn lấy chồng
(Bản Đỗ Đình Tuân biên tập lại cho hợp cách)

Ừ nhỉ sao ta khép kín phòng
Tội gì đêm lạnh chịu nằm không
Kẻ nơi âm giới đà an phận
Người ở dương gian luống bợn lòng
Nếu nợ Ông Tơ đà trả hết
Thì duyên Bà Nguyệt tất xe xong
Mong ai thấu hiểu tình cô phụ
Xin cứ phăm phăm tới áp tròng.
                Hồ Nhật Thành+Đỗ Đình Tuân

BÀI HỌA NGUYÊN VẬN

Hỏi cô mình ?

Từ bữa anh đi vẫn hé phòng
Một mình đêm vắng có buồn không ?
Thôi đành anh nhé xa xôi mặt
Để dạ em nguôi khắc khoải lòng
Món nợ nhân duyên dù trả hết
Gánh tình số kiếp lại chưa xong !
Đêm đêm thầm ước tình quân đến
Cháy dạ mong ai chẳng khép tròng ?
                           Đỗ Đình Tuân

04/10/2015
Đỗ Đình Tuân

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015

Đọc Quốc âm thi tập kỳ cuối (40)







252. Trư 1

Dài hàm nhọn mũi cứng lông
Được dưỡng 2 vì chưng có thửa dùng
Lỗi hòa đàn 3 tinh Bắc Đẩu 4
Lang một điểm 5 thụy Liêu Đông
Chân khi mặt nước chưa hay lạt 6
…………………………………
Tiện 7 chẳng hay bề biến hóa
Giương hai con mắt 8 lại xem rồng.

1. Trư: con lợn
2. Được dưỡng: được nuôi
3. Lỗi hòa đàn: lẻ ra ngoài đàn
4. Tinh Bắc Đẩu: sao Bắc Đẩu. Theo sách Dậu dương tạp trở thì có một thiền sư đời Đường hiệu là Nhất Hàng, giỏi thuật số. Có một người tù nhờ Nhất Hàng cứu, sư Nhất Hàng nói: “Xem chỗ nào có vườn mà trong đó có nuôi vật gì có 7 con thì bắt cả về đây”. Người nhà người tù nhân thấy trong vườn nọ có 7 con lợn con, bèn bắt cả đem đến cho sư Nhất Hàng. Sư nhốt lợn vào một ống to, lấy giấy bịt kín lại. Cùng lúc ấy quan Thái sử tâu với vua là không thấy sao Bắc Đẩu mọc. Vua hỏi Nhất Hàng. Nhà sư trả lời rằng muốn sao Bắc Đẩu mọc trở lại thì không gì bằng đại xá tù nhân. Vua nghe lời, sư Nhất Hàng bèn thả bảy con lợn ra (tức là 7 ngôi sao trong chòm Bắc Đẩu), tức thì sao Bắc Đẩu lại sáng.
5. Lang một điểm: chỉ con lợn lang đầu. Tương truyền vùng Liêu Đông (TQ) không có giống lợn lang. Có người thấy giống lợn lang cho là điềm lành (thụy)
6. Loài lợn không sống được dưới nước nên không biết vị nhạt nhẽo của nước.
7. Tiện: tức bần tiện
8. Giương hai con mắt: chỉ đầu lợn luộc tế thần (mắt lợn luộc) cứ giương lên như là xem con rống ở ngai thờ.

253. Thái cầu 1

Truyền tin 2 chẳng lọ nhọc thanh đồng
Cổi lòng xuân 3 làm sứ thông
Năm thức  4  phây phây 5 đuôi phượng mở
Tấm lòng 6 im ỉm chữ nhàn phong 7
Dõi qua ngàn liễu vương tơ bạc
Bay tận lòng hoa động bóng hồng
Nẻo đến 8 tin đâu đều hết có 9
Nâng coi 10 ai nỡ để tay không.

1. Thái cầu: quả cầu ngũ sắc. Tết Hàn thực vua gửi thiếp vào trong quả thái cầu để trao tặng các cận thần.
2. Truyền tin: chỉ việc vua gửi thiếp vào trong quả Thái cầu
3. Cổ lòng xuân: giãi lòng xuân
4. Năm thức: 5 mầu sắc
5. Phây phây: đẹp phay phây.
6. Tấm lòng: phần trong quả thái cầu
7. Nhàn phong: bức thư do nhạn đưa
8. Nẻo đến: nơi đến
9. Hết có: hết thẩy đều có (tận hữu)
10. Nâng coi: nâng niu

254. Nghiễn trung ngưu 1

Đằm 2 chơi bể học đã nhiều xuân
Dời đến trên yên 3 nằm quải chân 4
Mày mọ 5 hôm dao 6 lòng mặc khách
Kỳ mài  ngày tháng của thi nhân
Khỏe cày ruộng thánh 7 đà nhiều khóm
Được dưỡng cao văn vô số phần.

*Nguyên bản thiếu hai câu cuối bài
1. Nghiễn trung ngưu: trâu trong nghiên
2. Đằm:  trâu đầm mình trong vùng bùn (trâu đẵm)
3. Yên: bàn đọc sách thời xưa
4. Nằm quải chân: chỉ con trâu nằm tréo khoeo trong cái nghiên mài mực tầu.
5. Mày mọ: có thể đọc Mạy mọ, máy mó (liên tục sờ vào)
6. Hôm dao: hôm mai
7. Ruộng thánh: ruộng thành rừng nho, chỉ kho tang sách vở kinh điển, cũng như đạo học của thánh hiền nói chung.

03/10/2015
Đỗ Đình Tuân

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

Đọc Quốc âm thi tập (39)






145. Cam đường 1

Thấy bóng cam đường nhớ Thiệu Công 2
Đất dư dời được 3 bạn cùng thông
Bút thơ đã chép hương còn bén 4
Ngâm ngợi nào ai chẳng động lòng.5

1. Cam đường: cây cam đường hay còn gọi là đường lê quả ăn được.
2. Thiệu Công: Thiệu Công Thích đời Chu Vũ Vương đi kinh lý nước Nam thường ngồi dưới gốc cây cam đường để nghỉ ngơi. Khi Thiệu Công đi rồi nhân dân nhớ công đức làm thơ cam đường ca ngợi. Sau được sưu tập vào Kinh Thi
Thánh bài Cam đường ở thiên Thiệu Nam.
3.Đất dư dời được: Ý nói đã trông được cây cam đường bên cạnh cây thông
4. Câu 3 ý nói đức chính của thiệu công đã được chép thành thơ để lưu truyền mãi mãi.
5. Câu 4 ý nói: mỗi khi ngâm ngợi bài thơ cam đường thì ai cũng rung động.

246. Trường An hoa 1

Ấy chẳng Tây Thi thì Thái Chân
Trời cho tốt lạ mười phân
Ngày chầy điểm đã phong quần đỏ
Rỡ tư mùa một thức xuân.

1. Trường An hoa: hoa trường an, nhưng chưa rõ là hoa gì
2. Trường An: Kinh đô nhiều triều đại của Trung hoa từ Tần đến Đường. Sau thành tên chung để chỉ kinh đô. “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, chẳng lịch cũng thể con người Tràng An” (Người Thăng Long, Hà Nội xưa)
3. Tây Thi: Người đẹp nổi tiếng của  nước Việt thời Xuân Thu.
4. Thái Chân: tức Dương Quý Phi vợ yêu của Đường Minh Hoàng
5. Rỡ tư mùa: rực rỡ quanh năm.

247. Dương 1

Chiếm được thiều quang 2 chín mươi
Day day 3 hoa nở tốt hòa tươi
Đông phong 4 có ý bù trì nữa
Một phút xuân là một động người.

1. Dương: lọi cây cùng họ với Liễu nhưng lá không rủ mềm như liễu
2. Thiều quang: ánh nắng mùa xuân
3. Day day: lay động
4, Đông phong: gió xuân

CẦM THÚ MÔN
(Mục chim thú)

248. Lão hạc 1

Ngẫm hay sự thế nhẹ bằng lông
Ăn uống không nài bổng Vệ Công 2
Lầu nguyệt 3 đã quen tiên thổi địch 4
Non xuân từng bạn khách ăn thông 5
Cánh xâm bạch tuyết mười phần bạc
Đính 6 nhuộm đan sa chín chuyển hồng 7
Nghìn dặm trời dầu đủng đỉnh
Kham cười 8 anh vũ 9 mắc chưng lồng.

1. Lão hạc: chim hạc
2. Vệ Công: tức Vệ Úy Công. Tả truyện chép rằng Ý Công nước Vệ thích chim Hạc, đi xe cũng choc him hạc cùng đi. Khi có người Di, Dịch xâm lược, tướng sĩ kêu rằng “sao không sai hạc đi đánh giặc ? Hạc còn có lộc vị, chứ chúng tôi không có lộc vị, đánh thế nào được”. (TVG)
3. Lầu nguyệt: tức lầu Hoàng Hạc; Vũ Nguyên Hành có câu: “Hoàng hạc lầu trung nguyệt tịnh câu” (Trong lầu Hoàng Hạc mặt trăng như lưỡi liềm” (TVG)
4. Tiên thổi địch: theo Liệt tiên toàn truyện Phí Văn Vĩ đắc đạo thành tiên, thường đến uống rượu ở một quán vùng Giang Hạ, nợ tiền đến mấy năm mà chủ quán vẫn không kêu ca. Phí Văn Vĩ bèn vẽ lên vách một con hạc, khách đến cứ vỗ tay là con hạc lại nhảy múa làm vui. Nhờ thế quán rượu giầu lên gấp bội. Qua mười năm sau, Phí Văn Vĩ lại đến, thấy chủ quán đã giầu có, liền cầm ống địch thổi mấy bài, chốc lát con hạc bay đến trước mặt, tiên Phí Văn Vĩ bèn cưỡi hạc bay đi. Chủ quán bèn dựng lầu ở nơi đó gọi là Lầu Hoàng Hạc.
5. Khách ăn thông: Liệt tiên truyện chép rằng xưa Ốc Thuyên tu tiên, thích ăn quả thông, thân trở nên nhẹ có thể bay được (TVG)
6. Đính: chỉ mào của con Hạc
7. Đan sa chín chuyển hồng: xưa các đạo sĩ luyện đan sa thường nấu chín lần thành mầu đỏ thắm để làm thuốc trường sinh gọi là phép “cửu chuyển linh đan”. Cả câu tả mào con hạc đỏ thắm như như màu đan sa đã luyện chín lần.
8. Kham cười: đáng cười, nực cười
9. Anh vũ: chim vẹt

249. Nhạn trận 1

Nước dãy triều cường 2 chín bãi đầy
Làm kỳ chính 3 khéo nên bầy
Đàn 4 chìm đạn ngọc sao bắc
Phất dõi cờ lau 5 gió tây
Thu phát lệnh nghiêm 6 bài đỗ gấp
Sương thanh 7 bảng nhặt 8 tiếng kêu chày 9
………………………………………
Từ tái 10 đường nghèo lòng mựa ngây.

1. Nhạn trận: nhạn bay dàn hàng
2. Nước dãy triều cường: nước đầy lên khi triều cường
3. Làm kỳ chính: kỳ là lối đánh khác thường (du kích), chính là lối đánh chính quy
4. Đàn: bắn cung đầy loại đạn đá đi (khác với Xạ là bắn cung đẩy mũi tên đi)
5. Phất dõi cờ lau: Bông lau phất như cờ bay, gió tây (gió thu)
6. Thu phát lệnh nghiêm: Mùa thu đã đưa tin rét đến
7. Sương thanh: sương trong, sương lạnh
8. Bảng nhặt: bảng theo hiệu lệnh nghiêm nhặt
9. Tiếng kêu chầy: tiếng kêu chậm chạp, thủng thẳng
10. Tử tái: tức Nhạn môn quan, một cửa ải nằm ở tỉnh Sơn Tây Trung Quốc. Tương truyền chim nhạn bay về phương Nam là xuất phát từ đó

250. Điệp trận 1

Làm sứ đi thăm 2 tin tức xuân
Xòe hai cánh nhẹ mười phân
Nội hoa 3 chớp chớp 4 vây đòi hỏi 5
Doanh liễu 6 khoan khoan khéo lữa lần
Thục đế để thành leo lét
Phong vương 7 đắp lũy khóc rân
Chúa xuân dìu dập dư ba tháng
Mắng cầm ve 8 mới đỗ quân.

1. Điệp trận: đàn bướm
2. Làm sứ đi thăm: cũng như ong bướm được xem như vị sứ giả báo tin xuân
3. Nội hoa: bãi hoa, đồng hoa
4. Chớp chớp: cánh bướm xòe cụp chấp chới
5. Vây đòi hỏi: xúm lại
6. Doanh liễu: tức doanh Tế Liễu, nơi đóng bản doanh của tướng nhà Hán là Chu Á Phu.
7. Phong vương: chỉ con ông chúa
8. Mắng cầm ve: nghe tiếng đàn ve.

251. Miêu 1

Lọ vằn 2 sinh bởi mãi phương tây 3
Phụng sự Như Lai trộm phép thầy 4
Hơn chó được ngồi khi diện bếp 5
Tiếc hùm chẳng bảo chước leo cây 6
Đi nào kẻ cấm buồng the kín 7
Ăn đợi ai làm bàn soạn 8. đầy
Khó lẫn sang chăng lỡ phụ
Nhân chưng hận chuột phải nuôi mày.

1. Miêu: con mèo
2. Lọ vằn: lọ lem, vằn vện, chỉ sắc lông loài mèo
3. Tương truyền loài mèo sinh ra từ đất Phật bên nước Tây Trúc (Ấn Độ)
4. Vắng sư thì loài mèo trèo lên nằm cả với tượng Như Lai
5. Diện bếp: quay mặt vào bếp
6. Theo cổ tích thì thày mèo dạy vó cho hổ nhưng không dạy hổ phép leo cây để phong bất trắc về sau.
7. Nơi buồng the kín đáo cũng không ai cấm được mèo đến.
8. Bàn soạn: mâm cỗ.

02/10/2015
Đỗ Đình Tuân

Tiếc thay…







Cặp giò còn giống Hồng Nga
Từ A đến Z thành gà còn đâu
Tưởng em buôn bè bán tầu
Ai ngờ chuyển giới lâu lâu lần về
Tiếc thay em gái miền quê
Hóa gà Đông Tảo mò về bới rơm…?

02/10/2015
Đỗ Đình Tuân

SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân