Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 5






Bài 160

Đông chí

Nguyên tác và phiên âm

冬至
Đông chí
雲走風飛霜滿天
Vân tẩu phong phi sương mãn thiên
光陰從此入新年
Quang âm tùng thử nhập tân niên
春回舊徑鳥知未
Xuân hồi cựu kính điểu tri vị
樹破新牙花欲然
Thụ phá tân nha hoa dục nhiên
壓悶日將醇酒酌
Áp muộn nhật tương thuần tửu chước
畏寒夜抱火爐眠
Úy hàn dạ bão hỏa lô miên
近來懶向西園上
Cận lai viễn hướng tây viên thượng
强起扶筇看水仙
Cưỡng khởi phù cùng khan thủy tiên

Dịch nghĩa: Tiết đông chí

Mây chạy gió bay sương tỏa đầy trời
Quang cảng từ đấy bước sang năm mới
Xuân về lối cũ chim đã biết chưa ?
Cây nẩy mầm non hoa sẽ đỏ như lửa cháy
Nén buồn ngày đem rượu ngọt ra uống
Sợ lạnh ban đêm ôm lồng ấp mà nằm
Gần đây lười không ra thăm vườn tây
Nay gượng đứng dậy chống gậy ra đó mà xem hoa thủy tiên.

Dịch thơ:


Gió mây sương tỏa đầy bầu
Quang âm đã thuộc năm sau từ giờ
Xuân về chim đã biết chưa ?
Mầm cây mới nứt hoa chờ đỏ ra
Nén buồn rượu ngọt la đà
Ban đêm lồng ấp giường ta ôm nằm
Vườn tây lâu chửa lại thăm
Hôm nay gượng đến xem mầm thủy tiên.

                                Đỗ Đình Tuân
                                  (Dịch thơ)

30/10/2014
Đỗ Đình Tuân

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 4






Bài 161

Sơn trà

Nguyên tác và phiên âm:


山茶
Sơn trà
春來客贈我山茶
Xuân lai khách tặng ngã sơn trà
醉裡矇矓不辨花
Túy lý mông lung bất biện hoa
白髮蒼顏吾老矣
Bạch phát thương nhan ngô lão hĩ
紅袍金帯子真耶
Hồng bào kim đới tử chân da
尋常細雨驚穿葉
Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp
萧瑟晨風怨落笳?
Tiêu sắt thần phong oán lạc dà
近日相看惟以鼻
Cận nhật tương khan duy dĩ tỵ
了無香氣一呵呵
Liễu vô hương khí nhất kha kha!


Dịch nghĩa: Sơn trà

Xuân đến có người cho ta cây sơn trà
Trong cơn say mắt lờ mờ chẳng nhận rõ là hoa gì
Tóc bạc mặt xanh ta đã già nhỉ
Áo đỏ đai vàng quả thiệt là người đó a?
Mưa nhỏ tầm thường nhưng cũng sợ nó xuyên qua lá
Gió sớm hiu hắt càng oán nó làm rụng mất đài
Gần đây ta chỉ xem bắng mũi
Chẳng thấy một chút hơi thơm nào phì cười khà khà.

Dịch thơ:

Đón xuân người tặng chậu trà
Say mờ ta chẳng nhận ra hoa gì
Tóc da ta đã già ghê
Đai vàng áo đỏ người kia chăng là ?
Mưa bui sỏ lá đây mà
Giận cơn gió sớm đài hoa rụng rời
Xem hoa ta chỉ ngửi thôi
Khà khà lắc một tiếng cười : đếch thơm.
                           Đỗ Đình Tuân
                              (Dịch thơ)

TẠ LẠI NGƯỜI CHO HOA TRÀ

Tết đến người  cho một chậu trà
Đương say ta chẳng biết rằng hoa
Da mồi tóc bạc ta già nhỉ,
Áo tía đai vàng bác đó a
Mưa nhỏ những kinh phường sỏ lá
Gió to luống sợ lúc rơi già
Xem hoa ta chỉ xem bằng mũi
Đếch thấy hơi hương một tiếng khà.
                              Nguyễn Khuyến
                                   (Tự dich)


30/10/2014
Đỗ Đình Tuân

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 3






Bài 162

Ái quất

Nguyên tác và phiên âm

愛橘
Ái quất
愛菊與愛蓮
Ái cúc dữ ái liên
古者愛非一
Cổ giả ái phi nhất
余性素兼愛
Dư tính tố kiêm ái
晚年獨愛橘
Vãn niên độc ái quất
愛為辛不烈
Ái vị tân bất liệt
愛為酸不栗
Ái vị toan bất lật
愛為苦非胆
Ái vị khổ phi đảm
愛為甘非蜜
Ái vị cam phi mật
既可悅人口
Ký khả duyệt nhân khẩu
又可療人疾
Hựu khả liệu nhân tật
不與競芳菲
Bất dữ cạnh phương phi
不與争薈蔚
Bất dữ tranh oái uất
小園審易安
Tiểu viên thẩm dị an
隆冬豈能屈
Long đông khởi năng khuất
君子哉若人
Quân tử tai nhược nhân
碌碌少儔 匹
Lục lục thiểu trù thất

Dịch nghĩa:

Kẻ yêu cúc người yêu sen
Người xưa yêu mối người một thứ
Tình ta vốn yêu rộng
Đến tuổi già chỉ yêu quất thôi
Yêu vì cay mà cay không xé lưỡi
Yêu vì chua mà không chua ghê người
Yêu vì đắng mà không như mật đắng
Yêu ngọt mà không như mật ngọt
Đã làm cho người ngon miệng
Lại chữa cho người khỏi bệnh
Không đua thơm với ai
Không tranh tốt với ai
Chốn vườn nhỏ dễ yên thân
Mùa đông rét không khuất phục được
Quân tử thay gã này
Bọn tầm thường ít kẻ sánh kịp.

Dịch thơ:


Người yêu cúc, kẻ yêu sen
Mỗi người yêu một thứ riêng trên đời
Ta yêu nhiều thứ hơn người
Về già yêu một quất thôi ai bì
Quất cay mà cay không tê
Quất chua nhưng chẳng chua ghê cả mình
Đắng không như mật đắng kinh
Ngọt không như mật họng mình khé ra
Đã thơm ngon miệng mọi nhà
Lại còn chữa bệnh cho ta mọi đường
Khôngcạnh ai để đua thơm
Không tranh ai để đua rườm rà xanh
Vườn con quen sống yên lành
Giữa đông giá rét nắng hanh sá gì
Thực là  quân tử nam nhi
Bọn thường khó sánh không bì được đâu.

Đỗ Đình Tuân
  (Dịch thơ)

29/10/2014
Đỗ Đình Tuân

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

Lưu lại trên trang nhà



                             DỰ ĐỐI TRÊN TRI ÂN
                      (Trò chơi cũ cho một mùa vui mới)


Ngày 28/10/2014

Vế ra:   Hay khen, hèn chê, miệng thế xưa nay vẫn thế                                             
            Đỗ Đình Tuân

Vế đối: Tốt bày, xấu đậy, nhân gian muôn thuở còn gian
           Nguyễn Vũ Song Thu

Bài bàn luận kỹ hơn và thấu đáo hơn về lý sự thôi. Còn trong thực tế người Việt đa phần sống chiều đời: "Ở đời thì phải chiều đời / Lấy Tây phải để cho bồi ngủ chung".Họ không muốn mất lòng ai cả, cho nên nói công khai, nói trước mặt đa phần họ nói không thật lòng. Nhưng nói vắng mặt, nói sau lưng thì có khi lại khác. Vế đối cực chuẩn, chỉ hơi e ở chỗ "Tốt bày xấu đậy" đã thành một thành ngữ chưa ?
           Đỗ Đình Tuân

Ngày 29/10/2014

Vế ra:  
 -HAY KHEN, HÈN CHÊ; MIỆNG THẾ XƯA NAY VẪN THẾ                               
           Đỗ Đình Tuân

Vế đối:
-GIÀU TẬU, KHÓ BÁN; NGƯỜI KHÔN MUÔN THUỞ CÒN KHÔN
           Nguyễn Khắc Nguyệt

Đối thanh, đối ý thì chuẩn rồi, nhưng đối chữ còn hơi "lép" một chút. Ây là ở chỗ hai chữ THẾ ở về ra tuy đồng âm nhưng khác nghĩa. Chữ THẾ trong "miệng thế" có nghĩa là NGƯỜI ĐỜI, còn chữ THẾ trong "Vẫn thế" lại có nghĩa là “như vậy”. Chẳng hạn như vế đối lại của cô Song Thu “Tốt bày, xấu đậy; nhân gian muôn thuở còn gian” thì hai chữ GIAN cũng đồng âm nhưng khác nghĩa. Chữ GIAN trong “nhân gian” có nghĩa là “khoảng, cõi” chỉ không gian tồn tại của con người. Còn chữ GIAN trong “còn gian” lại có nghĩa là “dối trá, không thật”. Rất cám ơn Song Thu và Khắc Nguyệt đã có những vế đối tuyệt vời và khá tuyệt vời. Mong bà con trong xóm Tri Ân cùng tham gia dự đối để luyện chữ cho vui.
           Đỗ Đình Tuân


29/10/2014
Đỗ Đình Tuân

                                                                    

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 2






Bài 168

Thu tứ 2

Nguyên tác và phiên âm

秋思
Thu tứ
翠竹遶篱溪壑幽
Thúy trúc nhiễu ly khê hác u
北雙 獨坐對清秋
Bắc song độc tọa đối thanh thu
狂吟何必千人誦
Cuồng ngâm hà tất thiên nhân tụng
縱飮難消萬古愁
Túng ẩm nan tiêu vạn cổ sầu
平野地寬先得月
Bình dã địa khoan tiên đắc nguyệt
寒汀水浅不通舟
Hàn đinh thủy thiển bất thông châu
迷途暗恨歸來晚
Mê đồ ám hận quy lai vãn
一度江山一白頭
Nhất độ giang sơn nhất bạch đầu

Dịch nghĩa:

Tre xanh quanh giậu, khe ngòi êm tĩnh
Trước cửa sổ hướng bắc một mình ngồi ngắm thu trong
Thơ ngâm phiếm, không cứ gì phải hàng nghìn người đọc
Rượu uống tràn vẫn khó tan được mối sầu muôn thuở
Bãi bằng đất rộng được ngắm trăng sớm hơn
Bến lạnh nước nông thuyền không qua được
Đã trót lầm đường vẫn ân hận rằng quay về muộn quá
Cứ mỗi phen trải qua cảnh sông núi, lại một phen bạc đầu thêm.

Dịch thơ:

Tre xanh êm tĩnh rãnh ngòi
Ngắm thu cửa bắc ta ngồi giờ lâu
Thơ nghìn người đọc cần đâu
Rượu tràn cũng khó tan sầu nghìn năm
Bãi bằng sớm được ngắm trăng
Nước nông bến lạnh thuyền sang được nào
Lầm đường hận ở quá lâu
Một phen sông núi bạc đầu một phen.
                              Đỗ Đình Tuân
                                 (Dịch thơ)


29/10/2014
Đỗ Đình Tuân

Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 1






Bài 167

Thu tứ 1

Nguyên tác và phiên âm

秋 思
Thu tứ

一聲萧瑟動高梧
Nhất thanh tiêu sắt động cao ngô
去歲今朝景不殊
Khứ tuế kim triêu cảnh bất thù
霄暵虛空青未了
Tiêu hán hư không thanh vị liễu
斜陽煙水淡如無
Tà dương yên thủy đạm như vô
少陵亂後詩聲苦
Thiếu Lăng loạn hậu thi thanh khổ
彭澤歸來酒興孤
Bành Trạch quy lai tửu hứng cô
甚矣吾衰無一事
Thậm hĩ ngô suy vô nhất sự
出門聊復倩人扶
Xuất môn liêu phục thiến nhân phù

Dịch nghĩa:

Tiếng đâu xào xạc làm rung động ngọn cây ngô đồng
Hôm nay, năm nay so với hôm nay năm ngoái phong cảnh vẫn như nhau
Bầu trời quang đãng xanh ngắt một mầu
Dưới bóng chiều khói nước coi nhạt như không
Thiếu Lăng sau lọan lời thơ đau khổ
Bành Trạch về hưu hứng rượu chỉ có một mình
Ngán nỗi thân ta suy yếu không làm được gì
Mà khi ra cửa lại phải nhờ người nâng đỡ.

Dịch thơ:

Gió buồn xào xạc cành ngô
Giờ này năm ngoái cũng như thế này
Bầu trời xanh ngắt mầu mây
Bóng chiều khói sóng nhạt vầy như không
Thiếu Lăng 1 sau loạn thơ buồn
Về hưu Bành Trạch 2 rượu suông một mình
Ta càng vô vị buồn tênh
Muốn đi chẳng cất nổi mình mà đi.
                                Đỗ Đình Tuân
                                  (Dịch thơ)

Chú thích:
1.     Thiếu Lăng: tức Đỗ Phủ, nhà thơ đời Đường
2.     Bành Trạch: tức Đào Tiềm, nhà thơ đời Tấn.


28/10/2014
Đỗ Đình Tuân

SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân