Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 12






Bài 4

Tam Điệp sơn

Nguyên tác và phiên âm

三疊山
Tam Điệp sơn
清華山水帝王州
Thanh Hoa sơn thủy đế vưng châu
書劍重來是故吾
Thư kiếm trùng lai thị cố ngô
三疊峯頭初縱目
Tam Điệp phong đầu sơ túng mục
九龍江外一回頭
Cửu Long giang ngoại nhất hồi đầu
岩迷樹色千青落
Nham mê thụ sắc thiên thanh lạc
海入雲邊片白浮
Hải nhập vân biên phiến bạch phù
擬把予情訂泉石
Nghĩ bả dư tình đính tuyền thạch
不知泉石信予不
Bất tri tuyền thạch tín dư phầu

Dịch nghĩa: Núi Tam Điệp

Núi sông Thanh Hóa vốn là đất đế vương
Vẫn chính là ta ngày trước lại đeo gươm cắp sách đến đây
Trên đỉnh núi Tam Điệp vừa buông tầm mắt
Ngoảnh đầu đã thấy Cửu Long giang ở đắng xa
Sườn núi lẫn mầu cây nơi nơi xanh ngắt
Chân mây liền mặt bể một làn trắng dập dềnh
Những toan đêm nối lòng mà hẹn với suối đá
Chẳng hay suối đá cótim mình không ?

Dịch thơ:

Thanh Hoa vốn đất đế vương
Nay qua Tam Điệp thư gươm lại vào
Vừa buông tầm mắt trên cao
Ngoái đầu xa thấy dạt dào Cửu Long
Sườn non xanh tít mắt trông
Chân mây mặt bể trập trùng trắng bên
Suối rừng muốn gửi niềm riêng
Chẳng hay suối đá có tin chăng là ?
                            Đỗ Đình Tuân
                               (Dịch thơ)

5/11/2014
Đỗ Đình Tuân

Thăm Vân Đình 5 tháng 11 năm 2014














5/11/2014
Đỗ Đình Tuân

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

Hồn nhiên *







Cầu sông xóm Bến sông Đào
Của thôn Thông Lộc  ngày nào đó em
Anh hồn nhiên để em xem
Em hồn nhiên kéo cho thêm dài dài…

* Đây chỉ là một bức ảnh trôi nổi trên mạng,  nhưng quá giống cái bến sông của làng tôi (xóm Bến, sông Đào, thôn Thông Lộc, xã Cổ Thành, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương)  những năm 50 của thế kỷ trước, nên tôi ngẫu hứng mà làm mấy câu thơ nhận vơ để minh họa cho bức ảnh này.

4/11/2014
Đỗ Đình Tuân

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 11





Bài 3

Thu dạ châm thanh

Nguyên tác và phiên âm

秋夜砧聲
Thu dạ châm thanh
更深霜重晏裘輕
Canh thâm sương trọng án cừu khinh
四顧寒砧枕畔縈
Tứ cố hàn châm chẩm bạn oanh
搗月高低侵角嚮
Đảo nguyệt cao đê xâm giác hưởng
隨風斷續散虫聲
Tùy phong đoạn tục bán trùng thanh
驚回戍婦襄城夢
Kinh hồi thú phụ tương thành mộng
喚起征夫?闕情
Hoán khởi chinh phu ngụy khuyết tình
一種幽愁消未得
Nhất chủng u sầu tiêu vị đắc
遠山何處又鐘鳴
Viễn sơn hà xứ hựu chung minh

Dịch nghĩa: Tiếng đập vải đêm thu

Canh khuya sương nặng áo cừu tía nhẹ
Tiếng đập vải bốn bề vang quanh bêb gối
Dồn dập dưới trăng cao thấp át cả tiếng tù và
Theo làn gió đứt nối lẫn vào tiếng dế
Khua tỉnh giấc mộng Tương Thành của người thú phụ
Gọi dậy tình ngụy khuyết của kẻ chinh phu
Một thứ u sầu chưa tiêu tan được
Ở ngọn núi xa nào đó lại nghe tiếng chuông rền.

Dịch thơ:

Canh khuya áo nhẹ sương dày
Nghe quanh bên gối tiếng chày gần xa
Thấp cao át tiếng tù và
Dưới trăng đứt nối lan hòa tiếng sâu
Mộng hồn thú phụ tan mau
Gợi tình ngụy khuyết mối sầu chinh phu
Khối buồn mãi chẳng tan cho
Núi xa đâu đó chuông chùa lại ngân.
                               Đỗ Đình Tuân
                                  (Dịch thơ)

4/11/2014
Đỗ Đình Tuân

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 10






Bài 145

Ức Long Độ sơn 2

Nguyên tác và phiên âm

憶龍隊山
Ức Long Đội sơn
近來衰病不参禅
Cận lai suy bệnh bất tham thiền
回憶前遊亦愴然
Hồi ức tiền du diệc sảng nhiên
古寺四鄰唯木石
Cổ tự tứ lân duy mộc thạch
寒僧一榻共雲煙
Hàn tăng nhất tháp cộng vân yên
幾層竹影疑無路
Kỷ tầng trúc ảnh nghi vô lộ
有客桑間立待船
Hữu khách tang gian lập đãi thuyền
野老未知鐘響午
Dã lão vị tri chung hưởng ngọ
放牛山鹿卧松眠
Phóng ngưu sơn lộc ngọa tùng miên

Dịch nghĩa: nhớ núi Long Đội 2

Ít lâu nay vì đau yếu không lên thăm cảnh chùa
Nhớ lại cuộc đi thăm trước, lòng cũng bùi ngùi
Chùa cổ bốn bên chỉ có đá và cây
Sư nghèo một giường lẫn cùng mây với khói
Bóng trúc dày đến mấy tầng, tưởng chừng như không có lối đi
Ở giữa bài dâu có khách đứng đang chờ thuyền
Ông già quê chưa biết chuông ngọ đã khua
Còn thả trâu ra chân núi nằm ngủ dưới cây thông

Dịch thơ:

Lâu nay ốm chẳng thăm chùa
Một mình nhớ chuyến thăm xưa ngậm ngùi
Quanh chùa toàn đá, cây thôi
Sư nghèo một chõng nằm ngồi trong mây
Lối lên bóng trúc ken dầy
Bãi dâu du khách đứng ngây đợi đò
Lão quê không thấy chuông chùa
Thả trâu chân núi ngủ khò gốc thông.
                                   Đỗ Đình Tuân
                                      (Dịch thơ)

3/11/2014
Đỗ Đình Tuân

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 9





Bài 144

Ức Long Đội sơn 1

Nguyên tác và phiên âm

憶龍隊山
Ức Long Đội sơn
二十年前訪上方
Nhị thập niên tiền phỏng thượng phương
此時景色未相忘
Thử thời cảnh sắc vị tương vương
半空靜梵揺星日
Bán không tĩnh phạm giao tinh nhật
歷代残碑證海桑
Lịch đại tàn bi chứng hải tang
平野千邨三面合
Bình dã thiên thôn tam diện hợp
空山萬佛一僧藏
Không sơn vạn Phật nhất tăng tàng
至今猶悵長江急
Chí kim do trướng trường giang cấp
日夜奔濤 亦到洋
Nhật dạ bôn đào diệc đáo dương

Dịch nghĩa: Nhớ núi Long Đội

Trước đây hai mươi năm ta có lên núi thăm cảnh phật
Cảnh sắc lúc ấy nay vẫn chưa quên
Chùa vắng đứng lưng chừng trời lấp lánh những vì tinh tú
Bia tàn trải bao triều đại chứng tỏ cuộc bể dâu
Nghìn thôn ở nơi đồng bắng ba mặt chầu lại
Muôn vị phật ở trên núi vắng ẩn náu một nhà sư
Đến nay lòng còn ngậm ngùi về sông dài chảy xiết
Dộn dịp ngày dêm rồi cũng tuôn ra bể.

Dịch thơ:



Hai mươi năm trước từng lên
Cảnh chùa khi ấy đã quên đâu nào
Lưng trời lấp lánh muôn sao
Bia tàn đã chứng biết bao chuyển vần
Nghìn thôn ba mặt quây quần
Thờ nghìn phật một tăng nhân trụ trì
Ngậm ngùi sông nước trôi đi
Ngày đêm dộn dịp tuôn về biển khơi.

                             Đỗ Đình Tuân
                                (Dịch thơ)

2/11/2014
Đỗ Đình Tuân

Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2014

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 8






Bài 143

Vọng Đội Sơn

Nguyên tác và phiên âm

望隊山
Vọng Đội Sơn
無端平地出名山
Vô đoan bình địa xuất danh sơn
樓閣參差落日間
Lâu các sâm si lạc nhật gian
十里長亭青未了
Thập lý trường đình thanh vị liễu
半空飛鳥倦知還
Bán không phi điểu quyện tri hoàn
遠村草樹深深見
Viễn thôn thảo thụ thâm thâm kiến
病眼風塵步步艱
Bệnh nhãn phong trần bộ bộ gian
遐想山中有佳趣
Hà tưởng sơn trung hữu giai thú
雲邊坐外一僧閒
Vân biên tọa ngoại nhất tăng nhàn

Dịch nghĩa: Trông núi Đọi

Nơi đất bằng bỗng nổi lên một ngọn núi có danh tiếng
Buổi mặt trời lặn trông thấy lầu gác lô nhô
Trường đình mười dặm mầu xanh chưa nhạt
Chim bay ngang trời mỏi cánh biết bay về
Xóm xa cây cối um tùm như ẩn như hiện
Mắt đau trong gió bui đi mỗi bước một khó khăn
Xa tưởng ở trên núi cũng có thú vui
Một nhà sư nằm ngồi ở bên mây rất thư thả.

Dịch thơ:

Mọc ra ngọn núi vang tên
Lô nhô lầu gác hiện lên cuối ngày
Mầu xanh ngút mắt chưa phai
Ngang trời chim mỏi cánh bay về rừng
Thôn xa cây cỏ trùng trùng
Mắt đau gió bụi ngập ngừng chân tôi
Tưởng trên ấy có gì vui
Sư nhàn một vị nằm ngồi bên mây.
                          Đỗ Đình Tuân
                            (Dịch thơ)

1/11/2014
Đố Đình Tuân

SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân