Thứ Năm, 11 tháng 8, 2011

NHẬN BIẾT VÀ CẢM THỤ THƠ (9)

                                 Bài 9

                   Thơ trong xứ sở văn vần

Xưa nay THƠ đã được dùng với nhiều mức độ ý nghĩa rộng hẹp rất  khác nhau. Có thời người ta dùng nó với ý nghĩa đại diện cho nghệ thuật. Ở thời đó thì  thần thoại, sử thi, bi kịch, hài kịch… đều bỏ chung vào một túi gọi là THI CA hết. Thi ca được nhắc đến chỉ là để phân biệt giữa nghệ thuật với triết học và các khoa học khác. Nhưng phổ biến hơn thì thi ca được dùng với ý nghĩa là văn vần. Như thế càng quá rộng. Bởi lẽ ngày xưa người ta dùng văn vần phổ biến lắm. Cái gì người ta cũng muốn đem diễn ca viết ra thành văn vần : kinh Phật diễn ca, lịch sử diễn ca, đạo đức cũng diễn ca. Thậm chí truyện cổ cũng lại đem diễn ca nốt. Tìm được “nàng thơ” trong cái “đám hội văn vần” này quả đâu có dễ.
Khoảng đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam  xuất hiện một lớp học giả tân học. Một số vị đã  sưu tầm, phân loại văn học Việt Nam. Chẳng hạn thơ ca dân gian, bắt đầu được chia  thành các thể loại: tục ngữ, ca dao, vè… Đại khái ta có thể hiểu tục ngữ là những câu nói cửa miệng, thường gặp trong dân gian. Cũng có thể xem nó là những câu danh ngôn hay một kiểu thơ đặc sắc: đặc sắc trong vần điệu, đặc sắc trong cấu tứ và khái quát cuộc sống: Cốc mò cò xơi, Ngồi mát ăn bát vàng, Khẩu Phật tâm sà, Ông nói gà bà nói vịt, già néo đứt dây, Lạt mềm buộc chặt…
Còn ca dao chính là lời của những bài hát khi nó được tách ra khỏi làn điệu, tách ra khỏi nhịp phách, tiếng đệm và những luyến láy riêng của từng làn điệu. Có lẽ vì ban đầu làm ra là để hát nên nó giầu nhạc điệu và rất trữ tình. Nó chỉ khác với thơ bác học ở chỗ do nhiều người góp vào, sau lại qua tay nhiều người nhuận sắc lại, nên những dấu ấn cá nhân thường bị mài mòn đi. Nó vẫn xứng đáng được gọi là thơ, còn là thơ hay  là đằng khác. Chẳng hạn như trong nghệ thuật hát chèo, khi Thiện Sĩ cưới Thị Kính về, đôi vợ chồng trẻ đã hát điệu Đường trường phải chiều và múa Vu quy. Lời hát, điệu múa và đôi vợ chồng trẻ cứ quấn quýt bên nhau, căn vặn, thề bồi. Nhạc với múa với lời thơ  đã  cộng hưởng với nhau mà nâng chất trữ tình tươi vui đầm ấm đến độ hoàn mỹ. Ta có thể xem đi xem lại mà không bao giờ thấy chán mắt, nhàm tai. Trái lại lần nào ta cũng xúc động và sung sướng đến rưng rưng lệ. Điệu hát Đường trường phải chiều ấy nếu ghi cả nhịp phách, đệm đà, luyến láy thì nó có dạng:
Duyên phận i / ta phải i chiều i / ì ai ơi i í đôi thời / đôi / lứa i i i ta (xt 2) thời / này duyên i / ới i phận đôi lứa ta thời duyên / i phận / ta phải i / i i chiều i / i i i y i / i i y (LK4)
Dây / tơ i hồng thời / khéo y i xe / mà vấn vít i / i i y i / i í / i í y (xt2) thời / này duyên i / ới i phận đôi lứa ta thời duyên / i phận / ta phải i / i i chiều i / i i y i / i í y ( LK4)
Ơi / chỉ thề thời / có y bên / mà mà nước biếc i / i i y i / i i y (xt2) ấy mấy i đạo i / i y i i i hằng / xin i / ai chớ quên ơi / chứ ai ơi i i ta thời / ta rủ nhau (xt2) thời / này lên i / ơi i miếu ta rủ nhau cùng lên / i miếu / ta xuống / i ì đền i / i í y i / í ì y
Nhưng rút lại thì phần lời thơ chỉ gồm có 5 câu lục bát:
Đôi ta duyên phận phải chiều
Tơ hồng vấn vít, chỉ điều xe săn
Cầm tay giao mặt dặn rằng
Chỉ thề nước biếc đạo hằng chớ quên
Rủ nhau lên miếu xuống đền
Nhạc dân ca của ta ngày xưa thuộc nhạc “ngũ cung” lại chưa biết cách ghi nhạc theo kiểu 5 dòng kẻ như bây giờ, nên giai điệu thường chỉ được nhập tâm trong người ca sĩ . Khi đã có lời thơ, họ sẽ tách các câu thơ ra theo một cách thức nhất định rồi cài nó vào với nhịp phách luyến láy thì sẽ thành ra lời hát. Cho nên có thể xem dân ca là các trình thức hóa khác nhau cho việc phổ thơ cũng được. Vậy ca dao là lời của những bài hát dân ca hay là những bài thơ sẽ được đem phổ nhạc? Điều đó thì cũng khó mà xác định.
Riêng kể vè thì chưa thể gọi là thơ được. Nó mới chỉ là một bản tin, một bài báo được viết ra bằng văn vần mà thôi. Ở ta ngày trước thường thấy có hai lối kể vè. Một lối kể vè mang tính chất đồng dao, kể theo thể thơ bốn chữ:  vè vẻ vè ve / nghe vè lá lốt / Anh A cũng tốt / Chị B cũng xinh / Hai bên rập rình / Cũng muốn lấy nhau…Trong đời sống làng xã ngày xưa, nếu trong làng có một sự kiện gì xảy ra, lập tức sẽ có người đem kể thành vè  rồi mớm cho bọn con trẻ đi hát rêu rao khắp làng. Đó chính là một dạng báo chí dân gian đấy. Còn có một lối vè nữa kể theo thể thơ lục bát thường diễn ca lại một sự kiện xã hội, một nhân vật lịch sử nhất định. Chẳng hạn như Chính khí ca kể lại sự kiện thất thủ thành Hà Nội và cuộc chiến đấu hy sinh của vị quan giữ thành Hoàng Diệu. Vè chàng Lía kể về một anh hùng khởi nghĩa nông dân có tên là chàng Lía. Những bài vè này tuy rất có giá trị về mặt tư liệu lịch sử nhưng chưa có giá trị gì về nghệ thuật thi ca.
Trong khu vực văn chương bác học thì vốn đã có sự phân loại rồi. Nhưng chủ yếu vẫn là sự phân loại theo thể thơ. Nếu chỉ tính riêng thơ chữ Nôm thì có 4 thể được sử  dụng phổ biến nhất là phú, bát cú Đường luật, du nhập từ Trung Quốc nhưng được Việt hóa đi nhiều,  với hai thể thơ khác là lục bát và song thất lục bát là thể thơ thuần túy của Việt nam.
Những sự phân loại như trên là cần thiết nhưng vẫn chưa giúp ta nhận ra được chất lượng và trữ lượng thơ. Trong công trình nghiên cứu Đi tìm mật mã của thơ, Nguyễn Vũ Tiềm đã có một ý tưởng tốt là muốn tạo ra một cái thước để đo thơ. Cái thước đo thơ của Nguyễn Vũ Tiềm được chia ra thành 4 nấc như 4 cái nấc thang ấy. Nếu tính từ dưới lên, thì 4 nấc ấy như sau:
-Nấc 1: Miêu tả, kể sự việc, đưa ra khái niệm
-Nấc 2: Diễn đạt bằng hình ảnh
-Nấc 3: Diễn đạt bằng hình tượng
-Nấc 4: Diễn đạt bằng biểu tượng
Giữa nấc 1 và nấc 2 thì tương đối rõ ràng minh bạch, có thể dùng làm chuẩn để đo được. Nhưng còn giữa nấc 2 với nấc 3, giữa nấc 3 với nấc 4 thì nó cứ mờ mờ ảo ảo, nhấp nhoa nhấp nhoáng, nhộm nhoạm vào nhau, khó lòng dùng làm chuẩn để mà đo thơ được. Thành thử có thước đấy, nhưng dùng được thước để mà đo lại thành ra khó. Cuối cùng, vẫn cứ phải bằng vào sự nhạy cảm của trái tim mà nhận ra thôi. Cứ đem thơ mà gõ vào trái tim mình, rồi nghe tiếng của con tim nó phát ra mà xác định. Muốn thế thì phải giữ cho trái tim mình tĩnh tại đừng để cho nó lắc lư. Phải giữ cho nó thanh sạch, chớ để cho ruồi bâu, kiến bò hoặc màng nhện bồ hóng bám vào. Tâm hồn mà nhộn nhạo, bẩn tưởi thì thơ dù có hay mấy nó cũng chẳng rung đâu. Xin mọi người hãy thử trải nghiệm, hãy tĩnh tâm và lắng nghe rồi đọc thử mấy đoạn thơ sau:

- Củ gì có bướu, có gai
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen
Cùng làng cùng họ với sen
Ai ăn cũng phải ngợi khen ngon bùi

- Thân em như củ ấu gai
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen
Ai ơi nếm thử mà xem
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.

Ở hai bài thơ trên, câu chữ chẳng khác nhau là mấy, lại cùng nói về một sự vật. Nhưng chất lượng và trữ lượng thơ chứa đựng ở bên trong thì lại là một trời một vực. Một đằng chỉ thấy hiện ra có một củ ấu. Còn một đằng thì lại làm hiện ra một cô gái vô cùng duyên dáng và ý vị. Lại còn dám sẵn sàng mời anh xơi nữa chứ. Bạo dạn và hiện đại chưa? Đây là một người con gái rất đáng yêu và tâm hồn cũng đang đầy ắp một khát vọng được yêu.
12/8/2011
Đỗ Đình Tuân










Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

NHẬN BIẾT VÀ CẢM THỤ THƠ (8)

                                Bài 8

                      Bản chất của sáng tạo

Ngày xưa, có một trường phái triết học đã cho rằng sáng tạo là quyền năng riêng của Thượng đế. Cho nên họ lý giải những sáng tạo của con người, nhất là sáng tạo thi ca nghệ thuật chỉ là do sự mách bảo của thần linh. “Ai không có được cái điên cuồng do các Thi Thần  mang  lại mà bước tới ngưỡng cửa của nghệ thuật với niềm tin rằng chỉ cần một mình tài nghệ là đủ trở thành nhà thơ, thì người ấy còn lâu mới đạt được sự hoàn thiện: sáng tạo nghệ thuật của kẻ tỉnh táo sẽ bị nghệ thuật của những kẻ điên cuồng dìm chết”(Platon). Tôi thì tôi không tin thế. Tôi tin rằng sáng tạo là quyền năng riêng của con ngườì. Trên mọi lĩnh vực, ở đâu ta cũng có thể nhận ra sự sáng tạo của con người. Ngay trong lĩnh vực lao động sản xuất chẳng hạn, con người cũng luôn luôn sáng tạo. Đầu tiên  đã làm gì có nhà, họ phải ở trong hang. Nhưng rồi do nhu cầu “kiếm ăn” hoặc “chia đàn”, con người không thể cứ ở mãi trong hang được mà phải ra ở ngoài trời. Khi ấy con người mới “mô phỏng cái hang” để làm ra cái lều-dạng thức sơ khai của cái nhà. Nhưng dù có sơ khai đi nữa thì đấy vẫn là một phát minh, một sáng tạo. Trong lĩnh vực ăn uống cũng vậy, ban đầu đã làm gì có bát, có đũa . Toàn bốc bải dần sàng cả với nhau. Tay bốc, tay bưng nhồm nhoàm lắm. Mãi sau con người mới “mô phỏng ngón tay” để làm ra đôi đũa, “mô phỏng bàn tay” để làm ra cái bát. Cũng tương tự “mô phỏng đám cháy” để làm ra ngọn lửa, “mô phỏng bãi cỏ” để làm ra cái giường…vân vân và vân vân…
Như vậy thì bản chất của sáng tạo chỉ là sự mô phỏng. Nhưng mô phỏng không phải là bắt chước. Bắt chước chỉ là sự tức thời làm theo một cách máy móc. Còn mô phỏng lại là một sự hiểu biết bản chất rồi. Đã bắt đầu có sự bóc tách những thuộc tính cần thiết của đối tượng mô phỏng ra rồi, và chỉ tái tạo lại những thuộc tính cần thiết vào trong sự mô phỏng. Khi mô phỏng cái hang để làm ra cái lều thì con người đã bóc tách cái thuộc tính “độ vòm” và thuộc tính “che khuất” của cái hang rồi tái tạo nó vào trong cái lều để che nắng, che mưa. Còn nếu là bắt chước cái hang thì con người phải khênh nó ra chỗ mới. Điều này là không thể. Tương tự khi mô phỏng bãi cỏ để làm ra cái giường thì con người đã bóc tách cái thuộc tính “độ phẳng” của bãi cỏ  và tái tạo nó vào trong cái bề mặt của giường. Con người không thể khênh bãi cỏ để kê vào trong nhà được. Phân tích ra thì quá trình mô phỏng, quá trình sáng tạo chung nhất phải có ba công đoạn:
-Nắm được bản chất của của đối tượng định mô phỏng
-Bóc tách được những thuộc tính cần thiết của đối tượng định mô phỏng.
-Tái tạo những thuộc tính cần thiết ấy vào trong sự mô phỏng.
Nghiên cứu khoa học và sáng tạo nghệ thuật, trong bản chất của nó cũng là sự mô phỏng. Những thí nghiệm khoa học chẳng là sự mô phỏng các quá trình tự nhiên là gì? Con người đã dùng những thí nghiệm khoa học để kiểm chứng các giả thiết khoa học. Nếu giả thiết khoa học được chứng minh thì chân lý khoa học được khám phá. Bằng không thì ngược lại. Trong sáng tạo nghệ thuật thì sự mô phỏng lại càng rõ. Nghệ thuật nào cũng là “mô phỏng” cả. Chúng chỉ khác nhau ở “chất liệu” dùng để mô phỏng thôi. Sáng tác văn chương thì dùng “chữ” để “mô phỏng” lại cuộc sống xã hội của con người. Nhưng diễn kịch, làm phim thì lại dùng “diễn viên”. Giữa kịch và phim chỉ khác nhau ở chỗ: kịch thì diễn trực tiếp và xem trực tiếp; còn phim thì diễn gián tiếp và xem gián tiếp. Bây giờ lại mới sinh ra môn “sân khấu truyền hình” thì bản chất nó vẫn là sân khấu, là kịch nhưng nó cộng thêm với cái “truyền thông” vào nên vẫn có thể xem gián tiếp  được . Xem băng, nghe nhạc thì cũng tương tự.
Hiểu như thế ta sẽ rõ hơn về quá trình sáng tác văn chương chính là dùng “chữ” để “mô phỏng”  “thân phận con người trong đời sống xã hội”. Trong quá trình đó nhà văn đóng vai trò “đạo điễn” còn các “chữ” sẽ đóng vai trò “diễn viên”. Người đạo diễn giỏi phải là người biết chọn “kịch bản” hay và nắm trong tay một “đội ngũ diễn viên” có tài. Tương tự nhà văn giỏi, nhà văn tài ba phải là ngườ biết chọn lựa đề tài , lại giầu có vốn “chữ”. Không phải là những “chữ” sáo mòn, sơ cứng mà phải là những chữ được thổi vào đó một luồng sinh khí mới cho thật trẻ trung, những chữ biết quẫy đạp, biết tung phá. Chỉ có những “chữ” như thế nó mới giúp nhà văn “mô phỏng” giống và sống được. 
Nhưng đây cũng chỉ là cái quá trình chung nhất, gỡ cho ta cái đường hướng lớn thôi. Đi vào cụ thể từng thể loại còn có những đòi hỏi riêng của nó nữa. Chẳng hạn như truyện, kí thì thiên về tự sự, thiên về ngoại giới nên đối tượng “mô phỏng” của nó chủ yếu là đời sống xã hội. Còn thơ, lại thiên về trữ tình, thiên về thế giới nội tâm nên đối tượng “mô phỏng” của nó lại chính là “con tim” tác giả. Đọc thơ mà không thấy “con tim” tác giả rung động thế nào thì chẳng còn gì là thơ nũa. Không phải cứ gào lên “tuyệt vời” thì cảnh sẽ đẹp, nhạc sẽ hay…Cũng không phải cứ la lên là yêu lắm ,yêu vừa thì tình yêu sẽ nồng nàn đằm thắm. Nhiều khi chính nó lại là dấu hiệu của sự trống rỗng, sự vô cảm vốn là những thứ “phản thơ” số một. Thử đọc lại đoạn kết của Nỗi lo đời thường:
Bời bời gan ruột rối lên
Cổng nhà mình đã đến bên lúc nào
Hai con bỏ nghịch reo chào
Mình đang vun tưới ngoắt vào ngừng tay
Rì rào khóm trúc lung lay
Gà con lích tích, quất đầy quả tươi
Hai con nét mặt rạng ngời
Con ơi mẹ muốn suốt đời được lo…
Chắng có chữ nào là “yêu con, quý con” cả, nhưng tấm lòng người mẹ thì lại hiện ra mồn một: sau một ngày chợ búa vất vả, những nỗi lo đang bời bời rối cả ruột gan. Vậy mà chỉ cần thấy “Hai con bỏ nghịch reo chào” thì mọi nỗi lo lắng như bay biến đâu cả. Người mẹ ấy dường như muốn ôm chầm lấy các con và thầm nghĩ “ Mẹ khổ thế nào cũng được, miễn là các con cứ được vui vẻ thế này”…Cả cái bức tranh cuộc sống  trong đoạn thơ đã diễn tả tâm tư, tình cảm của người mẹ. Những tâm tư, tình cảm ấy dường như là nằm ngoài câu chữ, nhưng nó có thật và nó truyền trực tiếp sang lòng người đọc. Cũng tương tự ta thử đọc lại một đoạn thơ của Nguyễn văn Thế:
Nước lụt ngang trời ba tháng
Nhà cửa, ruộng vườn ngâm trong nước trắng
Mẹ tôi gầy thầm khóc hàng đêm
Mẹ thương mấy đứa em không đủ cái ăn
Mẹ thương con trai mình vừa ra mặt trận
Mẹ thương cha suốt nhiều đêm ngồi như pho tượng
Cha càng gầy, hai mắt lõm sâu.
Ta cũng chẳng thấy Nguyễn Văn Thế có một chữ nào bảo là đang thương cha nhớ mẹ cả. Vậy mà qua đoạn thơ ta lại thấy Nguyễn văn Thế dường như đang khóc vì nhớ mẹ, thương cha ?…
11/8/2011
       Đỗ Đình Tuân


Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

NHẬN BIẾT VÀ CẢM THỤ THƠ (7)


                                        Bài 7

                   Đọc thơ Thu nhân ngày sinh Thu

Trong xóm ta có một người vừa có chút ít khả năng lại vừa được học hành tử tế có lẽ là vuthisongthu. Dưng mà Thị lại ít viết. Rất ít viết. Cũng có lý do đấy. Bởi lẽ trong nhà Thị, thì chồng Thị đã vô tích sự rồi, đã chẳng làm nên được cái tang dạng gì rồi. Thị không thể ngồi hí húi làm thơ, viết văn được. Thị phải lo kiếm tiền, lo chạy gạo để nuôi chồng nuôi con. Chính chồng Thị cũng đã có lần phải thừa nhận và chia sẻ: “Áo cơm em một gánh hàng / Thơ anh chỉ đổi được tràng vỗ tay”. Còn Thị, trên trang Blog cá nhân, Thị cũng tự giới thiệu: “Hỏi tên: Rằng Vũ Song thu / Hỏi quê: Rằng gốc Phủ Cừ Hưng Yên / Hỏi nghề: Nguyên bản giáo viên / Một thời lưu lạc sang miền “con buôn” / Gồng gồng gánh sớm hôm / Vì chồng rồi lại vì con tảo tần…”.
 “Thời lưu lạc sang miền con buôn” ấy của Thị kéo dài khoảng gần 13 năm: từ đầu năm 1983 đến giữa năm 1995. Trong 13 năm ấy, tôi thấy Thị có ba lần làm thơ nghiêm túc. Lần thứ nhất là bài Hoa dứa ông. Nguyên do Thị nẩy ra cái tứ thơ ấy cũng  là từ một thực tế có thật. Khi hiệu sách nhân dân Chí Linh còn là một căn nhà lá, ông Đính có trồng một cây dứa ông trong khuôn viên trước cửa để làm cảnh. Đến khi người ta nâng cấp hiệu sách lên xây nhà gạch tường hoa thì cây dứa ông ấy bị chặt đi. Người ta vứt lay lắt nó ở một góc xó. Nó cứ âm thầm phơi sương, phơi nắng rồi héo quơ héo quắt. Cũng không ai để ý gì đến nó cả. Chỉ khi đến một ngày xuân nọ, cây dứa ông kia bỗng bung nở một chùm hoa lạ trước mắt mọi người thì người ta mới ngỡ ngàng nhận ra, xúm xít đến xem và trầm trồ kinh ngạc. Thị ngồi bán hàng gần đấy, cũng đến xem hoa và trong lòng bỗng nảy sinh ra một liên cảm. Và Thị viết:
Dứa ông ai chặt gốc rồi
Vứt lăn lóc giữa nắng trời mùa đông
Gốc teo: đen nhẻm, khô còng
Lá xanh quằn quại…nhưng lòng vẫn xanh…
Mưa xuân dứa bỗng hồi sinh
Một mầm măng thẳng cất mình vươn lên
Tầng tầng hoa nở bốn bên
Ngỡ như mâm pháo giữa nền trời trong
Chắt chiu từng hạt nhựa nồng
Để hôm nay trổ những tầng hoa thơm
Ngày xem hoa dứa bên đường
Đêm mơ còn thấy ngát hương một vùng
Bên ngoài chỉ là tả một cây dứa ông có thật: gốc đã bị chặt đứt rồi, đã rời khỏi mặt đất rồi, thân lá đã héo quơ, héo quắt. Vậy mà mùa xuân về, mưa xuân xuống, cây dứa ấy vẫn quằn quại vươn lên, đâm mầm rồi bung hoa. Sức sống của nó thật kỳ diệu, thật đáng kinh ngạc. Có lẽ xem cây dứa này Thị liên cảm đến thân phận mình, thị cảm phục "ông dứa" mà bỗng thấy tự tin hơn.Thị đã gửi gắm tất cả những rung động trong lòng Thị vào bài thơ ấy…Sau bài thơ này tôi thấy Thị cũng có vững tâm hơn giữa cuộc đời bụi bậm.
Phải đến gần chục năm sau, tôi mới thấy Thị viết bài thơ thứ hai. Đó là bài Hai cảnh tết. Cũng toàn nói cảnh đời thực ở Sao Đỏ cả thôi. Hai cảnh tết  cũng là hai lối sống, hai quan niệm sống. Cảnh tết thứ nhất là lối sống của những gia đình giàu có, thừa thãi về đời sống vật chất, nhưng lại khiêm tốn và hơi mất gốc về đời sống tinh thần, đời sống văn hóa. Cho nên giầu có đấy,  mà cuộc sống vẫn không đẹp, không hạnh phúc:
Nhà lầu cao ngất phố
Ti vi mầu rực rỡ
Đầy những kẻ giữ dằn
Lao vào nhau đấm đá
Cứ như là trâu lăn

Đèn nháy như xé mắt
Đài xập xình inh tai
Trên bàn thờ đấy ắp
Những lon và những chai

Chồng dắt a còng ra
Giục vợ về quê nội
Vợ không thèm ngoái lại
Vứt  ra một xấp tiền
Nguýt dài thêm mấy cái

           Con đi về không hỏi
Bật bia uống tơi bời
Nằm dài ông ổng hát
Bia ơi uống đời tôi
Còn cảnh tết thứ hai là lối sống của một một lớp người, tuy khiêm tốn về đời sống vật chất, nhưng giấy rách giữ lề, biết chăm chút đến đời sống văn hóa, đời sống tinh thần,  nên chưa giầu có lắm nhưng vẫn đẹp, vẫn hạnh phúc:
Đây căn nhà mới lợp
Mái ngói còn đỏ tươi
Vôi trắng ve xanh mát
Bàn nhỏ ghế con thôi

Chậu quất vàng trĩu quả
Cành đào chúm chím cười
Trên bàn thờ dơn huệ
Cánh trắng khoe mầu tươi

Chiếc ti vi đen trắng
Đang diễn chèo thật hay
Cô Tấm hiền chăm chỉ
Đã gặp những điều may
Bé vỗ tay khoái chí
Cả nhà cùng vui lây

Tách cà phê bốc khói
Bố nhường mẹ tách đầy
Bánh kẹo mời cha mẹ
Con nâng bằng hai tay
Tiếng cười chen tiếng nói
Mừng xuân vui trọn ngày.
Để hai cảnh tết, hai lối sống song hành và đối chiếu lẫn nhau, bài thơ đã ngầm đặt ra một vấn đề nhân sinh rất thời sự và cũng khá sâu sắc: giữa đời sống vật chất và đời sống văn hóa thì cái gì quan trọng hơn đây? Và bài thơ cũng đã có câu trả lời. Nếu xác định mục đích của đời người là mưu cầu hạnh phúc thì con người phải giũ gìn cái nền gốc văn hóa, phải chăm chút đến đời sống văn hóa. Bỏ cái nền gốc này, chỉ chạy theo đời sống vật chất, con người dễ rước họa vào thân.
Mãi đến cuối cuộc đời “con buôn” tôi mới thấy Thị viết Nỗi lo đời thường . Lúc này thì hai đứa con của Thị đã phải đi học cả rồi. Nhu cầu chi tiêu ngày càng lớn hơn mà buôn bán thì ngày càng thêm khó. Gánh nặng cơm áo cứ đè nặng lên tâm tư Thị mỗi ngày:
Mở mắt ra là đã lo
Mua sao táo đẹp, cam to, quýt vàng...
Mua rồi lại lo bán hàng
Gánh rong khắp cả phố phường, bến xe
Nắng mưa, gió rét dám nề
Chân đi, vai gánh, tai nghe, mắt nhìn...
Đằng kia xe đậu, nhanh lên
Lại đây người gọi, có liền dám lâu
Suốt ngày xuôi trước ngược sau
Gánh hàng rồi cũng dần lâu bớt đầy
Chiều buông, nhẹ gánh vai gầy
Lại lo tiền lãi hôm nay ít nhiều?
Bần thần chẳng được bao nhiêu
Mà sao lắm thứ cần tiêu, cần dùng
Gạo ngày mai hết chưa đong
Tiền con nộp học chưa xong, con vòi
Lại thêm mấy cái thiếp mời
Lại còn đám héo của người xóm bên...
Bời bời gan ruột rối lên
Cổng nhà mình đã đến bên lúc nào
Hai con bỏ nghịch reo chào
Mình đang vun tưới ngoắt vào, ngừng tay
Rì rào khóm trúc lung lay
Gà con lích tích, quất đầy quả tươi
Hai con nét mặt rạng ngời
Con ơi mẹ muốn trọn đời... được lo...

Đọc bài thơ ta cứ ngỡ như một lời tự kể. “Nỗi lo” của một “bà buôn” trong một ngày như thế nào, cứ thực tình mà kể ra, chẳng khó khăn gì. Nhưng đâu có đơn giản thế. Để vẽ ra được một bức tranh tâm trạng xen kẽ với những bức tranh đời sống đan cài vào nhau tự nhiên, nhuần nhuyễn, không một chút gân gợn, không một chút gương gạo,là cả một quá trình chọn lọc, lắp ghép rất công phu. Đúng ra là một quá trình nghiền ngẫm, nung nấu, ấp ủ, cho vấn đề “tự chín” thì khi viết  ra mới tự nhiên được. Chưa kể, việc diễn tả tâm trạng trong bài thơ cũng khá là tinh tế. Những “nỗi lo” cứ kế tiếp nhau:lo mua hàng, lo bán hàng, lo lỗ lãi, lo chi tiêu…và dường như ở mỗi cung bậc nó lại tăng lên một cấp số. Cho nên ban đầu nó mới  là “phải lo” thì đến cuối ngày nó đã thành “bời bời gan ruột rối lên”. Ấy vậy mà chỉ cần nhìn thấy con vui, chồng mừng là mọi “nỗi lo” của Thị đều bay biến cả. Đôi mắt Thị lại sáng lên, nhìn vật gì cũng thấy tươi hơn hớn:
Hai con bỏ nghịch reo chào
Mình đang vun tưới ngoắt vào ngừng tay
Rì rào khóm trúc lung lay
Gà con lích tích, quất đầy quả tươi
Hai con nét mặt rạng ngời…
Và chỉ cần có thế thôi, ngày mai, ngày kia… Thị sẽ lại sẵn sàng lo, sẵn sàng gánh vác cho đến hết cuộc đời. Bởi cái "phải lo" kia nay bỗng chuyển thành cái "được lo" rồi. Cái tưởng như là một "nỗi khổ" lại trở thành một "niềm vui". Cái đó dường như hơi nghịch lý nhưng thực ra nó là một chân lý: trong bất kỳ sự hy sinh nào cũng chứa đựng một niềm vui, một niềm vui cao cả. Thị đang sẵn sàng như thế thì đùng một cái, giữa năm 1995, một sĩ quan quân đội đến nhà mời Thị đi dạy học. Thị cũng rất sòng phẳng: “Nếu có tái tuyển được thì tôi mới dạy, còn không thì tôi cứ chạy chợ. Nếu chỉ dạy cho các ông một thời gian tạm thời thôi, tôi mới lại đi buôn thì mất khách”. Người ta cũng đồng ý chỉ tạm thời sáu tháng đầu thôi. Sau đó sẽ tái tuyển chính thức. Thế là thị lại trở về nghề cũ. Hôm từ biệt bỏ nghề “con buôn”, các bạn buôn của Thị có đến nhà làm một cuộc liên hoan nhỏ nhẹ coi như là chia tay. Hôm ấy Thị cũng đã đọc bài thơ này coi như một lời tiễn biệt. Nhiều bạn buôn của Thị đã rưng rưng nước mắt. Trong những giọt nước mắt ấy có sự tự thương mình, nhưng chủ yếu là một niềm vui sướng vì họ đã được sẻ chia.
9/8/2011
Đỗ Đình Tuân








Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

NHẬN BIẾT VÀ CẢM THỤ THƠ (6)

                                       Bài 6

                           Sức vóc của một cây bút

Đa phần các cây bút xóm  Tri Ân ta lấy thơ làm trận địa để thử bút. Nhưng tỏ ra có sức vóc ngay từ những loạt đạn đầu, trước hết phải kể đến Nguyễn Văn Thế. Ngày 13/5/2011 anh công bố Bốn mươi năm một chặng đường để nhớ. Chắc là hôm ấy có cuộc họp đồng ngũ để kỷ niệm tròn  40 năm ngày vào lính:
Chúng tôi giờ nhiều người đã lên ông
Nội, ngoại, gái, trai đầy đủ
Có người còn nhiều lam lũ
Có người đã về với trời xanh
Ký ức những ngày đầu tiên
Chúng tôi còn giữ mãi
Cứ dịp tháng 5 lại háo hức tìm về đồng đội
Chỉ để nhìn thấy mặt nhau
Hỏi thăm vài câu
Thế là sung sướng.
Không văn hoa lá cành , cũng chẳng cầu kỳ làm duyên làm dáng gì, giọng điệu thơ của Nguyễn Văn Thế dung dị mộc mạc nhưng hồn hậu và đầm ấm tình người. Dường như Nguyễn Văn Thế cố kìm nén câu chữ lại chỉ để cho tình đồng đội của những người lính già thời hậu chiến tràn trề lên khắp câu thơ.
Bài thơ cũng vào đề rất tự nhiên:
Đất nước chiến tranh
Chúng tôi học hành dang dở
Chưa là thày
Không là thợ
Nhập ngũ ngày 13 tháng 5
Không than thở gì nhưng vẫn thấy xót xa.
Nhắc đến những kỷ niệm những ngày đầu đời lính thấy có hai cuộc tiễn đưa, một lần ở Đò Vạn và một lần ở ga Tiền Trung. Mỗi lần mỗi khác nhưng đều trĩu nặng  cả. Lần ở Đò Vạn thì:
Những chuyến đò chở nặng
Cứ nghiêng về một bên
Phía bờ có những người thân
Những bàn tay vẫy  mãi
Cái hình ảnh “Những chuyến đò chở nặng / Cứ nghiêng về một bên”  sao mà nặng tình đến thế. Hỏi đã có ai đem tình người ra cân được như thế hay chưa. Chỉ có trong thơ Nguyễn Văn Thế mới có thứ tình người làm nghiêng những chuyến đò.Trước đây, Trần Hữu Thung trong bài Thăm lúa đã có một câu thơ “Lúa níu anh trật dép” được trầm trồ khen ngợi mãi. Riêng tôi nghĩ, cái chi tiết này trong thơ Nguyễn Văn Thế cũng chẳng kém gì. Đến lần ở ga Tiền Trung thì cao trào hơn. Cái tình ấy trong những người lính trẻ đã đột nhiên  vỡ òa ra thành nước mắt:
Đêm tiễn biệt ga Tiền Trung biết bao bịn rịn
Nhiều nước mắt đã rơi
Những người lính tuổi mười tám, đôi mươi
Có người khóc òa như con trẻ.
Nhắc lại những ngày luyện quân ở Kinh Môn, Nguyễn Văn Thế cũng rất giỏi sử dụng những chi tiết sống động và khơi gợi. Chỉ cần thoáng qua một nét thôi là nhân vật, sự kiện đã hiện ra đúng như nó từng tồn tại:
-Chính trị viên Như giảng bài và hay cầm nhịp hát
Đại đội trưởng Vượng hô “Nghiêm” nghe như tiếng gầm của cọp
Đại đọi phó Doãn cao to chuyên việc hậu cần.

-Cơm đâu mà no bụng trẻ
Nhiều cậu ăn nhanh rồi vòng đánh “tăng hai”

-Có chàng còn tìm được người yêu
Chẳng có mấy thời gian gặp nhau
Thế là bỏ gác
Thế là lại khổ  thêm cho bao người khác
Đang đêm báo động đi tìm…

Nguyễn Văn Thế cũng rất hợp lý trong việc cài cắm giữa hiện tai với quá khứ, giữa tiền tuyến với hậu phương. Viết về năm 1971, Nguyễn Văn Thế đã không quên nhắc lại cái sự kiện phân lũ. Nỗi khổ của người dân Chí Linh, cụ thể là của gia đình Nguyễn Văn Thế hiện ra rất cảm động:
Nước lụt ngang trời ba tháng
Nhà cửa, ruộng vườn ngâm trong nước trắng
Mẹ tôi gầy thầm khóc hàng đêm
Mẹ thương mấy đứa em không đủ cái ăn
Mẹ thương con trai mình vừa ra mặt trận
Mẹ thương cha suốt nhiều đêm ngồi như pho tượng
Cha càng gầy, hai mắt lõm sâu.
Hơn hai tháng sau Blog Nguyễn Văn Thế lại thấy xuất hiện bài Thầm mong thăm lại Trường Sơn. Lần này thì Nguyễn Văn Thế không dùng thể tự do, có vẻ như sở trường với Nguyễn văn Thế hơn. Anh thử sức vào thể thơ lục bát. Ở thể thơ quen thuộc này cứ tưởng là dễ làm, dễ viết nhưng thực ra lại rất khó làm hay. Người chưa đủ bản lĩnh dễ bị vần điệu lôi đi vào sự lan man nhạt nhẽo, vào chỗ na ná giông giống như mọi người, chả ai nhận được ra mình nữa. Nguyễn Văn Thế cũng bị cái nguy cơ ấy đe dọa. Cho nên thực tình khi đọc bài thơ này tôi cứ lo thay cho tác giả không khéo lại  vô tình để đánh mất mình. Nhưng rất may là Nguyễn Văn Thế vẫn là Nguyễn Văn Thế. Có lẽ là vì anh luôn luôn  nghiêm túc với mình, anh chẳng vay mượn ai cả, anh cũng không dễ dãi bằng lòng với những lời nói quen thuộc chung chung thiếu khơi gợi. Anh cứ bằng vào cái vốn liếng trải nghiệm của riêng mình mà chắt lọc ra những chi tiết lấp lánh  rồi đem nó thêu dệt vào những câu thơ. Với cách viết cân nhắc thận trọng, tìm tòi công phu  nên thơ anh  tuy thường viết dài nhưng không lỏng lẻo, nhạt nhẽo. Trái lại luôn cô đọng, đủ độ hàm súc cần thiết cho câu thơ có sức vóc. Ở chỗ nào ta cũng có thể bắt gặp những câu thơ lay động và tạo dựng trong tâm não người đọc nên một hình ảnh, một không khí gì đó:

-Vào thăm lại những dấu chân
In trên vách đá rêu trơn thưở nào

-Vào thăm rau lá tầu bay
Tai chua, trái bứa đậm say tình người.

-Vào thăm lèn đá trú chân
Anh em đồng đội quây quần bên nhau
Người ra bên suối hái rau
Người ngồi băng lại vết đau chưa lành

-Vào thăm lại dốc Ba Thang
Quân đi như đứng xếp hàng nối nhau
Trùng trùng lớp lớp trước sau
Gót chân người trước người sau đụng đầu

-Vào thăm đồng đội yêu thương
Đơn  côi nằm lại tuyến đường năm xưa
Âm thầm dầu dãi nắng mưa
Chiến tranh kết thúc vẫn chưa biết gì

-Vào thăm bà Mẹ Lào Thưng
Lào Lum. Lào Sủng làm nương nhọc nhằn
Mối tình cá nước quân dân
Vì đường Mẹ đã mấy lần rời xa
Bản Lào vắng vẻ hoang  sơ
Cây chăm pa đứng ngẩn ngơ đợi người…

Người lính trẻ năm xưa nay “tóc đã pha sương” rồi. Anh đâu còn có điều kiện thời gian và sức khỏe để đi thăm lại chiến trường xưa. Anh đành “Mượn thơ thăm đường” làm một cuộc viễn du trong tâm tưởng vậy. Và chính thơ anh cũng đã mở lối cho chúng ta cùng nhập cuộc với anh. Đó là một chuyến đi không chuyển dời vị trí nhưng lại đầy hứng thú. Có thể nói thơ Nguyễn Văn Thế và văn Nguyễn Khắc Nguyệt đã giúp ta hiểu biết thêm rất nhiều về lớp trẻ ngày ấy: Lắm hy sinh, nhiều thử thách nhưng rất đỗi quật cường. Thành công vang dội thì không mấy, nhưng tất cả đều thành người tử tế, giầu tấm lòng và nhân hậu biết bao.
8/8/2011
Đỗ Đình Tuân




Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

NHẬN BIẾT VÀ CẢM THỤ THƠ (5)


                                              Bài 5

                              Cuộc sống và văn chương…

Để nuôi dưỡng con người xương thịt thì người ta  phải ĂN. Cũng nhiều chữ chỉ về cái “sự ăn” lắm: ăn, xơi, nhắm, đánh chén, nhậu, sực, đớp, kỉn, tọng…nhưng đều chỉ cái việc đưa thức ăn vào miệng mà nhai. Nhai là động tác của hai hàm răng kết hợp với lưỡi vừa dầm dừ thức ăn vừa trộn thêm nước dãi vào. Khi nhai thì mũi sẽ được ngửi các mùi thơm của thức ăn, lưỡi sẽ được nếm các vị ngon béo, ngọt bùi…của thức ăn. Cho nên gặp các món ăn khoái khẩu là người ăn cứ muốn nhai mãi, không cả buồn nhuốt. Nhưng nếu gặp thức ăn không ngon thì cố mà “tọng vào họng súng”, thậm chỉ phải ỏe ọe mà nhổ nó ra. Nhai xong thì mới nhuốt: lưỡi sẽ đưa thức ăn vào đầu thực quản, các cơ vòng của thực quản sẽ co bóp, giống như ta dùng bàn tay mà giồi lòng lợn, lòng chó…để đưa thức ăn vào dạ dày. Từ dạ dày trở đi hệ tiêu hóa sẽ tự động làm việc. Người ta chả cần để ý đến nó nữa. Dạ dày làm việc với thức ăn như thế nào, ta đâu có biết. Ruột non làm việc với thức ăn thế nào, ta nào có hay. Khi xuống đến ruột già thì thức ăn đã biến thành bã. Cái bã này chẳng thơm tho gì đâu, lại còn nhiều chất độc nữa. Cho nên nó sẽ phải tống ra ngoài. Nhưng chỉ khi nào “có lệnh”  thì ta mới biết. Khi ấy, nếu ở chỗ lạ là ta lại phải nhớn nhác đi tìm nhà vệ sinh.
Đấy là một quá trình ĂN bình thường. Nhưng nếu thức ăn có vấn đề hoặc bản thân hệ tiêu hóa mắc một chứng bệnh nào đó, không chịu tiếp nhận thức ăn thì nó sẽ phản ứng sớm hơn. Dạ dày hoặc ruột non, ruột thừa…sẽ sinh ra nhưng cơn co bóp bất thường tạo thành những cơn đau quằn, đau quại. Nạn nhân sẽ kêu trời kêu đất. Những người xung quanh lại phải xúm vào, xoa dầu, cho uống thuốc…thậm chí phải cuống quýt khênh đi bệnh viện. Ở xóm tôi, có một ông già năm nay đã vào tuổi chín mươi. Năm ngoái, ngài chỉ ăn có mấy miếng nem tai, thế mà sinh đau bụng. Ngài kêu giời kêu đất. Vợ con thì cứ nghĩ là ngài đã “đòi đi”, mới điện cho anh em về cả: miền Nam ra, Quảng Ninh về, Hà Nội xuống… Tíu tít đưa ngài đi bệnh viện. Bác sĩ bảo ngài bị tắc ruột, chuẩn bị mổ cấp cứu. Nhưng mổ cấp cứu với một ông già chín mươi quả là rất ngại, nên các bác sĩ cũng chần chừ đắn đo, mới quyết định thử thông ruột cho ngài đã. Thật may là cái “nút đó nem tai” ra được. Ngài khỏi liền. Nghỉ vài hôm, tôi lại thấy ngài chống gậy sang hàng xóm đánh cờ, ra CLB tổ tôm. Nhưng từ đó ngài sợ món nem tai, sợ những món dai dai và nhốn nháo. Tưởng như thế là yên thân. Ai ngờ vừa rồi lại bị lại. Lại tắc ruột. Nguyên nhân cũng chỉ vì ăn rau muống luộc. Bởi ngài nghe theo lời khuyên của đài báo: tuổi già ăn nhiều rau thì tốt. Chúng tôi mua quà đến thăm ngài. Ngài đã ngồi dạy được. Nhưng có vẻ còn mệt, thấy vừa nói vừa thở, kể lại chuyện đi viện vừa rồi. Cái bụng ngài phưỡn ra, to như cái thúng úp. Tôi chợt hiểu: chính cái khối mỡ tích trong cái bụng kia đã cản trở nhu động ruột, làm quá trình vận hành thức ăn trong ruột khó khăn. Ngài dễ tắc ruột là phải. Tôi vừa nghĩ thế thì nghe đứa con gái của ngài than phiền: “Mấy ngày nay bố cháu toàn phải uống sữa với ăn cháo thôi. Lúc nửa buổi, cháu mới thử cho ăn miếng khoai luộc, thế mà cũng đầy bụng. Kiểu này thì đến ăn cơm không khéo rồi cũng tắc!”…Cái sự tiêu hóa là quan trọng lắm chứ đâu có chơi. Anh tiêu hóa mà tắc thì thức ăn đưa vào bụng cũng bằng thừa. Thậm chí còn nguy hiểm. Mồm ăn mà tế bào vẫn đói. Thậm chí càng đói. Người sẽ tọp đi ngay, sẽ yếu đi ngay…
Để nuôi lớn con người tinh thần, con người văn hóa thì người ta phải tiếp nhận thông tin. Có thông tin do con người trực tiếp thu nhận từ cuộc sống. Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, con người đã mở mắt nhìn đời, dỏng tai nghe đời, mũi ngửi mùi thơm, lưỡi nếm vị ngọt của sữa mẹ, thân xác nằm trong vòng tay âu yếm của mẹ. Về nguyên tắc, tất cả những thu nhận này đều sẽ được lưu giữ trong bộ óc tuy non nớt nhưng lại đầy đủ nhất về số lượng nơ ron. Đứa trẻ này sẽ tiến bộ khá nhanh. Chỉ vài tháng đã “ừ ờu” hóng chuyện với người lớn. Lại còn toe toét cười nữa chứ. Có khi thích chí còn cười thét cả lên làm đám người lớn đều ngạc nhiên và vui lây. Rồi chẳng mấy mà nó sẽ lẫm chẫm tập đi, sẽ bi bô tập nói…Càng lớn, phạm vi sống của nó càng được mở rộng, những thu nhận của nó sẽ càng phong phú thêm.Có thể nói, chính cuộc sống là những món ăn  đầu tiên để hình thành nên con người tinh thần. Nó tạo thành vốn sống trực tiếp. Mà vốn sống trực tiếp thì con người thu nhận thường xuyên và liên tục trong suốt cuộc đời. Cả khi bé lẫn khi lớn, cả khi trẻ lần khi già, cả khi thức lẫn khi ngủ…Rất có thể là những thu nhận qua mắt và qua tai, khi con người đã có ngôn ngữ thì tạo thành phần ý thức. Còn những thu nhận từ những ngày còn nằm trong bào thai, thời chưa biết nói, chưa có ý thức và cả những khi mà mắt không mở, tai không nghe, như khi ngủ chẳng hạn, sẽ tạo thành cái phần vô thức chăng? Ấy là tôi cũng đoán già, đoán non như thế chứ đây là phần việc của các nhà tâm lý, cận tâm lý, các nhà ngoại cảm… 
Trong con người tinh thần thì vốn sống  có vai trò gần giống như hệ tiêu hóa vậy. Phải có nó con người mới có thể tiếp nhận được những thông tin gián tiếp bồi dưỡng cho con người tinh thần khôn lớn và phổng phao lên. Các môn nghệ thuật chính là các món ăn bổ dưỡng cho con người tinh thần, con người văn hóa. Đến nay thì loài người đã sáng tạo được tám bộ môn nghệ thuật. Trong đó có bốn bộ môn là nghệ thuật thời gian gồm văn chương, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh; bốn bộ môn là nghệ thuật không gian gồm hội họa, điêu khắc, kiến trúc và nhiếp ảnh. Các bộ môn nghệ thuật luôn được xem là món ăn sang, món ăn ngon của con người tinh thần. Vì thế, mỗi khi đọc văn, nghe nhạc, xem phim, xem kịch…người ta thường dùng từ “thưởng thức nghệ thuật”. Mỗi bộ môn nghệ thuật có một ngôn ngữ bộ môn riêng, nhưng chức năng chung của nghệ thuật thì gần giống nhau. Bởi chúng đều nhằm tái hiện cuộc sống; khắc họa chân dung, tính cách và biểu hiện tâm hồn, thân phận của con người trong những hoàn cảnh không gian và thời gian cụ thể khác nhau. Thưởng thức nghệ thuật thường đem lại cho con người những hứng thú kỳ diệu bởi nó thường dẫn trí tưởng tượng, ngẫm nghĩ của con người đến những xứ sở, những lĩnh vực và ý tưởng mới lạ. Nó khám phá và sáng tạo ra những vẻ đẹp mà người ta chưa từng thấy. Những cái chân, cái thiện, cái mỹ của tác phẩm nghệ thuật sẽ bồi tâm và sáng trí cho con người tinh thần của chúng ta.
Nhưng quá trình tiếp nhận giá trị của các tác phẩm nghệ thuật thực chất đã diễn ra trong tâm thức của con người như thế nào? Ở các bộ môn nghệ thuật không gian thì sự tiếp nhận ấy gần giống với sự tiếp nhận trực tiếp. Đường nét, màu sắc, bố cục của bức họa, bức ảnh; hình khối, quy mô, bố cục của bức tượng hay công trình kiến trúc đều là những tín hiệu hình ảnh và chúng ta buộc phải tiếp nhận nó qua cơ quan thị giác. Khi thưởng ngoạn các tác phẩm loại này trong tâm thức chúng ta không cần phải phục dựng lại hình ảnh trong trí não nữa. Người xem cứ việc ngắm nghía, trầm trồ, suy ngẫm về những ý nghĩa sâu xa, về vẻ đẹp kỳ lạ hay về quy mô hoành tráng…của nó mà thôi. Với các bộ môn nghệ thuật thời gian như âm nhạc, sân khấu, điện ảnh thì cũng tương tự. Duy chỉ có nghệ thuật văn chương là công đoạn thưởng thức có nhiêu khê hơn một chút. Ngôn ngữ tác phẩm mới ở dạng tín hiệu mã hóa, mắt chưa nhìn thấy, tai chẳng nghe ra…bởi nó chỉ mới là những “chữ”. Nó chỉ đi qua ngõ đôi mắt –nếu đọc; hoặc qua ngõ của đôi tai-nếu nghe đọc, để vào tâm não. Tâm não con người phải phục dựng lên hình ảnh, âm thanh, hình khối, quy mô…mà các “chữ” chứa đựng. Khi làm công việc phục dựng này con người tinh thần phải sử dụng đến những hình ảnh, âm thanh, cảm giác, kinh nghiệm…chứa trong kho vốn sống để viết lại tác phẩm trong tâm não của mình. Đó là một quá trình đồng sáng tạo đầy hứng thú. Rất nhiều những nhà văn nổi tiếng, trở thành nhà văn hóa, nhà bác học chỉ bằng con đường tự đọc sách như Mác-xim-gooc ki, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Tô Hoài…
Thực ra thì nghệ thuật văn chương mới là bộ môn nghệ thuật gần gũi với mọi người hơn cả. Bởi vì văn chương dùng ngay ngôn ngữ lời nói của con người làm ngôn ngữ sáng tạo. Tuy nó có chọn lọc, chau chuốt và biến hóa đi đôi chút nhưng về cơ bản nó vẫn rất gần với ngôn ngữ của cuộc sống thường ngày. Cho nên chỉ cần biết đọc, biết viết là người ta có thể tự đọc được tác phẩm văn chương. Riêng với các tác phẩm thuộc văn chương truyền miệng như truyện dân gian, ca dao tục ngữ, truyện nôm khuyết danh viết theo thể lục bát… thì ngay cả đến những người không biết chữ cũng có thể nhập tâm, đọc truyền khẩu cho nhau nghe, vừa đọc vừa bình, vừa quay tơ kéo sợi hay đắp đập be bờ…vui vẻ và thú vị lắm. Nghệ thuật văn chương cũng là thứ nghệ thuật vô cùng phong phú và đa dạng, nguồn thức ăn không bao giờ cạn cho con người tinh thần, con người văn hóa của chúng ta. Nhưng bản thân tác phẩm văn chương không tự chui vào đầu ta được. Chúng ta phải chịu đọc, chịu suy nghĩ, phải ham thích, phải có thói quen, có phương pháp và kinh nghiệm đọc sách thì mới có thể tự làm phong phú cho con người tinh thần của mình lên được. Nếu không thì con người tinh thần sẽ dễ bị còm cõi, dễ bị suy dinh dưỡng lắm.
6/8/2011
Đỗ Đình Tuân






Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

NGẪU HỨNG ĐỌC VĂN TRI ÂN


Thằng sướng viết về thắng khổ:
            HAY!
Thằng khổ viết về thắng sướng:
           TUYỆT!
Cứ viết được thế này
Đọc hay như TIỂU THUYẾT!
4/8/2011
Đỗ Đình Tuân
                               Thằng khổ nhận máy tính ở Đà Lạt

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

NHẬN BIẾT VÀ CẢM THỤ THƠ (4)

                                 Bài 4
                              
       Con người xương thịt và con người tinh thần


Con người xương thịt cần có cơm ăn, nước uống, khí trời … để duy trì sự sống. Mà bản chất của sự sống được Ăng ghen định nghĩa là một “quá trình trao đổi chất”. Quá trình trao đổi chất này cũng diễn ra giống như một phản ứng cháy. Nghĩa là cũng có sự nhận Ô xi - đốt cháy nhiên liệu - giải phóng năng lượng - và thải ra Các bô níc. Cái phần năng lượng giải phóng ấy được cung cấp cho các cơ quan trong cơ thể con người hoạt động. Khi “sự cháy” ấy không còn nữa thì cỗ máy cơ thể cũng “hết pin”. Quá trình trao đổi chất ngừng bặt. Đó là sự chết. Nhưng tùy địa vị xã hội của từng người, tùy thái độ của người nói đối với người chết mà tiếng Việt mình có rất nhiều chữ gọi: từ trần, tạ thế, khuất núi, về già, quy tiên, hai năm mươi, chầu giời, ngóm, toi, ngoẻo, ngoẻo củ tỏi…Đời con người thế là hết. Thế là đi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng cũng chỉ là cách nói cho văn vẻ  thôi. Chứ cái xác ấy sẽ đứng trước hai khả năng: Thứ nhất, những người sống sẽ đem vùi xuống đất làm mồi cho thế giới vi sinh vật phân hủy. Mãi đến ba bốn năm sau họ mới lại móc lên. Đa phần thì hết thịt, chỉ còn có xương. Họ sẽ nhặt xương xếp gọn vào tiểu sành đem đi chôn chỗ khác. Hãn hữu, cũng có một đôi người, chẳng rõ là tội tình gì, mà các “ngài vi sinh vật” lại không chịu ăn thịt đi cho. Thì eo ôi, nhầy nhụa lắm! Khả năng thứ hai, họ sẽ đưa vào lò điện táng. Kiểu này nhanh hơn. Chỉ vài tiếng sau thôi,  hoặc sẽ thành xương khô, hoặc sẽ thành tro cốt. Cái con người xương thịt này, cả khi sống lẫn khi chết, đều có thể cân đong đo đếm được. Mà cái ông “thợ trời” cũng giỏi chế tác lắm. Trên 6 tỷ, gần 7 tỷ người rồi mà về cơ bản vẫn mỗi người mỗi vẻ. Ngay cả ở những người “giống nhau như đúc”, nhưng nếu cứ ở gần, sống quen, tiếp xúc với họ thường xuyên, ta vẫn nhận ra cái khác biệt giữa họ. Khác nhau, nhưng lại vẫn giống nhau, vẫn là người, chứ không thành hình nhân, không thành khỉ…Thế mới tài chứ. Cái tính chịu khó “luôn luôn làm mới mình, không chịu copy lại mình” của cái ông “thợ trời” này thật đáng nể. Các nhà nghệ sĩ nặn tượng, các ông nhà văn viết truyện, viết tiểu thuyết, phải miêu tả nhân vật có mà học bơi ra cũng chưa hết tài của cái ông “thợ trời”.
Cùng tồn tại với con người xương thịt, còn có một con người nữa, vô hình vô ảnh, không cân đong đo đếm được. Nhưng có thật. Đó là con người tinh thần, con người văn hóa. Ta yêu hay ta ghét, ta khinh hay ta trọng… đối với một con người nào đó, lý do chủ yếu là do cái con người tinh thần, con người văn hóa này. Nếu chỉ tính riêng phần thân xác, con người chúng ta thua xa nhiều loài động vật, cả về cân nặng và sức vóc. Vậy mà con người lại chỉ huy được tất cả, làm chúa tể được tất cả. Rõ là một nghịch lý? Cho nên thấy một con trâu to khỏe lại phải ngoan ngoãn vâng theo sự sai khiến của một anh nông dân, hổ ta  rất thắc mắc và hỏi trâu rằng: “ Sao anh to khỏe thế mà lại để cho con người bé bỏng thế kia sai khiến?”.  Trâu mới trả lời: “ Người bé nhưng người có trí khôn”. Hổ ta càng tò mò đẫy bèn ra hỏi anh nông dân: “Trí khôn của người đâu, cho ta xem được không?” – “Trí khôn ta để ở nhà. Hổ muốn xem thì hổ phải bằng lòng để ta trói hổ lại, ta sẽ về lấy trí khôn ra cho hổ xem”-“Nhưng sao lại phải trói ta?”- “Khi ta về, hổ bắt trâu ta ăn thịt mất thì sao, ai tin được?”. Thấy hợp lý hổ ưng thuận liền. Thế là anh nông dân lấy chão trói chặt hổ vào gốc cây, tháo bắp cày táng cho hổ một trận: “Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây!...”. Đánh chán, anh ta mới đi lấy cỏ khô chất xung quanh mình hổ và cho một mồi lửa. Lửa cháy lèm lèm bắt cả vào lông hổ. Hổ vô cùng hoảng sợ cố vùng vẫy để thoát ra. Cũng may, lửa cháy làm chão đứt, hổ mới vùng chạy được. Còn trâu ta chứng kiến cảnh đó thì thích chí quá cười tít cả mắt lại. Không may, khuỵu chân ngã vập miệng vào một tảng đá, gẫy cả mất hàm răng. Người ta bảo sở dĩ bây giờ lông hổ vẫn còn những vết vằn đen và loài hổ rất sợ lửa chính là di chứng của cái trận đòn này. Còn trâu ta không có răng cũng là di chứng của cái trận ngã ấy. Đây chỉ là một câu “truyện ngụ ngôn” do con người bịa ra chứ đâu phải là sự thật. Nhưng “lẽ phải” gói trong câu chuyện thì lại là có thật. Đúng là sức mạnh của con người không nằm ở cơ bắp. Sức mạnh của con người nằm trong trí tuệ, là sức mạnh của “trí khôn”.
Trong câu chuyện “Tình yêu và Thượng đế” thì con người còn đi xa hơn: con người còn chiến thắng cả “đấng tối cao”, nắm trong tay “muôn phép lạ nhiệm mầu”  và sở hữu “tuổi thanh xuân vĩnh cửu”. Khác với khi sáng tạo ra muôn loài, khi sáng tạo ra con người, Thượng đế đã có ý ngầm thử thách đối với con người rồi. Ngài chỉ nặn ra một chàng trai và một cô gái, giao cho họ thêm một gói hạt giống, để họ giữa trần gian hoang sơ và bảo rằng: “Các ngươi phải tự tìm lấy cách duy trì nòi giống và nuôi sống các ngươi. Một năm sau ta sẽ xuống kiểm ta.”. Y hẹn, một năm sau, cùng với một vị tiểu thần tháp tùng, Thượng đế xuống trần gian thật. Chỉ thấy có một túp lều tranh, một đôi vợ chồng trẻ và một đứa bé sơ sinh đang nằm  trong nôi. Đôi vợ chồng trẻ vẫn nhìn say nhau không dời mắt. Từ trong ánh mắt ấy Thượng đế thấy toát ra một vẻ đẹp mà bản thân Thượng đế cũng chưa thể sáng tạo ra được. Thượng đế đánh giá rất cao vẻ đẹp đó coi là “Đẹp nhất cõi vô cùng / Hơn mọi vườn tiên bát ngát / Hơn cả vừng dương lúc hừng đông”. Thượng đế quá ngạc nhiên và choáng ngợp, hỏi vị tiểu thần thì vị tiểu thần ấy cũng khẳng định đó là vẻ đẹp của tình yêu con người. Thượng đế đã khẩn khoản đề nghị chàng trai truyền dạy cho ngài để ngài cũng “biết yêu”. Nhưng không rõ là vì  quá mải yêu vợ hay vì tình yêu là thứ không thể truyền dạy được mà chàng trai đã phớt lờ cái đề nghị của Thượng đế. Nhưng Thượng đế lại coi đó là một sự vô lễ và xúc phạm ngài nên ngài đã quyết định trừng phạt tình yêu bằng cách bắt con người phải già đi theo năm tháng “Để xem cái gọi TÌNH YÊU ấy / Còn đẹp được chăng mãi thế a?”.
Nửa thế kỷ sau Thượng đế mới lại xuống thị sát. Chiếc lều tranh khi xưa đã được thay thế bằng một “tòa nhà gỗ”. Đôi vợ chồng trẻ ngày xưa nay đã thành một đôi già da mồi tóc bạc. Xung quanh họ là một đàn cháu nhỏ, nội có, ngoại có, nô đùa vui vẻ “Ríu rít như bầy chim sơn ca”. Cảnh rừng núi hoang vu đã được thay bằng cảnh xóm làng trù phú giữa một mùa vàng bội thu: “Trên đồng thánh thót khắp nơi nơi / Trai gái vừa làm vừa hát vui / Lúa trải sắc vàng ra bất tận / Mênh mông như đến chạm chân trời”. Nhưng cái chính mà Thượng đế muốn kiểm chứng trong chuyến đi này là xem ngón đòn trừng phạt tình yêu của ngài từ năm mươi năm trước có hiệu quả gì không? Tiếc thay thời gian, tuổi tác và sự già nua lại không thể làm cho tình yêu lụi tàn. Trái lại nó càng đẹp thêm lên. Trong ánh mắt nhìn nhau của họ Thượng đế thấy ngoài vẻ đẹp của tình yêu nồng thắm, giờ đây còn ánh lên thêm một vẻ đẹp mới: vẻ đẹp thanh khiết của lòng chung thủy. Lòng ganh ghét của Thượng đế bị kích động, ngài lập tức ra đòn trừng trị tình yêu của con người bằng “cái chết”: “Thượng đế run lên vì giận giữ / Tuổi già chưa đủ hỡi con người / Ta sẽ bắt các ngươi PHẢI CHẾT / Phải xương khô mồ lạnh chôn vùi”.
Ba năm sau Thượng đế lại xuống. Bà già đã thành một nấm mồ. Ông già một mình đơn côi ngồi ấp mộ, mặt buồn rười rượi đăm chiêu nhìn xuống nấm mồ. Từ đôi mắt già nua và khổ não ấy thỉnh thoảng lại chắt ra một giọt lệ như sương rơi xuống . Qua những giọt lệ ấy, Thượng đế không những chỉ nhìn thấy vẻ đẹp của tình yêu, của lòng chung thủy, mà bây giờ còn thấy ánh lên cả vẻ đẹp của SỰ VẸN TOÀN BẤT DIỆT. Bây giờ thì Thượng đế đã hết sách. Ngài run lên vì sợ hãi bèn đành cúi đầu quỳ gối trước ông già, đàm phán mà cả một cuộc trao đổi bán mua. Ngài chấp nhận mang toàn bộ gia sản mà ngài có từ “tuổi thanh xuân vĩnh cửu” đến “muôn phép lạ nhiệm mầu” chỉ cầu đổi lấy được “tình yêu của cõi người” mà ông già đang nắm giữ. Nhưng khổ thay cho Thượng đế,  trong gia sản của ngài không có cái gọi là “cái chết” vốn là thứ cơ hồ có thể ngang giá được với “Tình yêu ven toàn bất diệt của cõi người”. Đó là cái lý do khiến cuộc “đàm phán” của ngài với ông già đổ vỡ. Không còn cách nào khác Thượng đế đành phải trở về với cõi vô cùng, hoang vắng  và cô đơn, trả lại xứ TRẦN GIAN ấm áp, đông vui và diễm lệ cho con người cai quản.
Câu “Truyện dân gian” TÌNH YÊU VÀ THƯỢNG ĐẾ đâu chỉ đơn giản kể lại câu chuyện tình đầu tiên của nhân loại. Điều quan trong hơn là thông qua câu chuyện tình ấy, nó bổ sung thêm một nét lớn trong sức mạnh tinh thần của con người: ngoài “trí khôn” ra còn cần phải có “tấm lòng” nữa. Mà theo như diễn giải của câu chuyện thì nội dung của “tấm lòng” đó chính là tình yêu thương giữa con người với con người, là lòng thủy chung son sắt trước sau như một, là đức hy sinh vừa như một hệ quả, vừa như một điều kiện cần để đảm bảo cho tình yêu được thực hiện.
2/8/2011
Đỗ Đình Tuân




SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân