Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

Đọc Quốc âm thi tập (2)

Bảng viết chữ nôm các bài thơ:


7. Ngôn chí 6

Trường ốc ba thu uổng mỗ danh
Chẳng tài đâu xứng chức tiên sinh
Cuốc cằn 1 ước xáo vườn chư tử 2
Thuyền mọn khôn đua bể lục kinh 3
Án sách cây đèn hai bận cũ
Song mai hiên trúc một lòng thanh
Lại mừng nguyên khí vừa thịnh
Còn cậy vì hay một chữ đinh.4

1. Cằn: cùn, mòn
2. Chư tử: chỉ các học phái thời tiên Tần. Theo “Nghệ văn chí sách Hán thư”
Thì có 10 nhà.
3. Lục kinh: tức 6 kinh là: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu
3. Chữ đinh (丁) chữ đơn giản nhất trong hán tự

8. Ngôn chí 7

Đã mấy thu nay để lề nhà
Duyên nào đeo đẳng khó chăng tha
Một thân lẩn khuất đường khoa mục
Hai chữ mơ màng việc quốc gia
Tài lẹt lạt 1 nhiều nên kém bạn
Người mòn mỏi hết phúc còn ta
Quân thân chưa báo lòng canh cánh
Tình phụ cơm trời áo cha.

1. Lẹt lạt: kém cỏi

9. Ngông chí 8

Túi thơ bầu rượu quản tình suông
Quẩy dụng đầm hâm 1 mấy dặm đường
Đài Tử Lăng 2 cao thu mát
Bè Trương Khiên 3 nhẹ khách sang
Tằm ôm lúc nhúc thuyền đầu bãi
Hàu chất so le khóm cuối làng
Ngâm sách thắng chái trong thuở ấy
Tiếng trào dậy khắp thương lang.

1. Đầm hâm: ấm áp, nhẹ nhàng, êm vui
2. Tử Lăng: tên tự là Nghiêm Quang, bạn học thuở trẻ của Hán Quang Vũ(25-57), khi Quang Vũ khôi phục nhà Hán lên ngôi, Nghiêm Quang đổi họ tên, về ở ẩn câu cá, cầy ruộng ở miền núi Phú Xuân, Chiết Giang. Ông thường câu cá ở sông Đồng Giang. Chỗ Nghiêm Tử Lăng câu cá sau này gọi là Tử Lăng đài
3. Trương Khiên: Nhà thám hiểm nổi tiếng thời Hán Vũ Đế (140-87 trước công lịch). Ông đã đi sứ ở nhiều nước thuộc phía Bắc và Tây Bắc Trung Quốc (Nhục Chi, Hung Nô). Ông thường cưỡi bè đi sứ.

10. Ngôn chí 9

Sang cùng khó bởi chưng trời
Lặn mọc làm chi cho nhọc hơi
Dã lòng thanh vị núc nác
Vun đất ải luống mồng tơi
Liêm cần tiết cả tua 1 hằng nắm
Trung hiếu niềm xưa mựa 2 nỡ 3 dời
Con cháu chớ hiềm song viết 4 ngặt
Thi thư thực ấy báu ngàn đời.

1. Tua: nên (âm cổ của chữ TU trong hán tự)
2. Mựa: chớ
3. Nỡ: Kiều Thu Hoạch đề nghị phiên là “nữa”
4. Song viết: Đỗ Văn Hỉ đề nghị phiên là “suông nhạt”

11. Ngôn chí 10

Cảnh tựa chùa chiền lòng tựa thày
Có thân chớ phải lợi danh vây
Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén
Ngày vắng xem hoa bả cây
Cây rậm chồi cành chim kết tổ
Ao quang mấu ấu cá nên bầy
Ít nhiều tiêu sái lòng ngoài thế
Năng một ông này đẹp thú này.


12. Ngôn chí 11.

Cỏ xanh cửa dưỡng để lòng nhân
Trúc rợp hiên mai quét tục trần
Nghiệp cũ thi thư hằng một chức
Duyên xưa hương hỏa tượng ba thân 1
Nhan Uyên 2 nước chứa bầu còn nguyệt
Đỗ Phủ 3 thơ nên bút có thần
Nợ quân thân chưa báo được
Hài hoa còn bợn 4 dặm thanh vân.

1.Tương ba thân: ba thân (tức ba sinh) chữ nhà Phật chỉ ba kiếp quá khứ, hiện tại và tương lai. Cái nhân duyên ở kiếp này sẽ sinh ra cái kết quả ở kiếp sau. Tượng ba thân: tuồng như ba thân
2.Nhan Uyên: học trò Khổng Tử, nhà nghèo, sống thanh bạch, cơm một giỏ, nước một bầu
3.Đỗ Phủ: (712-770) nhà thơ đời Đường, có câu thơ nổi tiếng: “ Độc thư phá vạn quyển / Hạ bút như hữu thần”.
4.Bợn: vướng vít

24/08/2015
Đỗ Đình Tuân

Sinh nhật Minh Hiển lần thứ 3











23/08/2015
Đỗ Đình Tuân

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

Giỏi canh tân




Bản viết chữ nôm:



Ngưu Lang Chức Nữ giỏi canh tân
Năm chỉ gặp nhau có một tuần
Tình cảm vợ chồng luôn mới mẻ
Như tình trai gái tuổi thanh xuân.
                            Đỗ Đình Tuân


22/08/2015
Đỗ Đình Tuân

Đọc Quốc âm thi tập (1)




1.Thủ vĩ ngâm

Góc thành nam,1 lều một căn
No nước uống, thiếu cơm ăn
Con đòi trốn, dường ai quyến
Bà ngựa gầy, thiếu kẻ chăn
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá
Nhà quen thú thứa 2 ngại nuôi vằn
Triều quan chẳng phải ẩn chẳng phải
Góc thành nam, lều một căn

1. Thường được hiểu là “phía nam thành Đông Quan (Thăng Long). Bùi Văn Nguyên thì lại cho rằng: thành Nam là tên gọi dân gian ở phía nam sông Cả (sông Lam Nghệ An), còn tên gốc là thành Trà Lung, tên dân tộc thiểu số ở đó. Theo Bùi Văn Nguyên thì Nguyễn Trãi bị quản thúc ở đó từ năm 1413 dến năm 1416 mới được tha bổng và đưa ra Đông Quan cải huấn ?
2. Thú thứa: theo Đại Nam quốc âm từ vị của Huỳnh Tịnh Của thì “thú thứa” có nghĩa là: “cất để vô ý, không cẩn thận, không vén khéo”. Đào Duy Anh phiên là “Xuế xóa” “xú xứa” . Nhưng “xuế xóa” (đại khái qua loa không cẩn thận) thì thông về nghĩa hơn.

2.Ngôn chí 1

Thương Chu bạn cũ gác chưa đôi 1
Xá 2 lánh thân nhàn thuở việc rồi
Cởi tục trà thường pha nước tuyết
Tìm thanh trong vắt tạn 3 chè mai
Chim kêu hoa nở ngày xuân tạnh
Hương lụn 4 cờ tàn tiệc khách thôi
Bui 5 có một niềm chăng nỡ trễ 6
Đạo làm con lẫn đạo làm tôi.

1. Gác chưa đôi: gác lại chưa đôi co
2. Xá: hãy, nên, phải…
3. Tạn: có thể đọc là tận, tạn, tiện, tịn đều chung nghĩa là tới, đến nơi, tận nơi
4. lụn: có thể đọc là lụn hoặc lọn nhưng đi với chữ hương thì đọc là hương lụn hợp nghĩa hơn
5. Bui: tiếng cổ dịch chữ duy 惟 (chỉ có)

3. Ngôn chí 2

Lểu thểu chưa nên tiết trượng phu
Miễn là phỏng dáng dạng tiên nho
Chè mai đêm nguyttj dậy xem bóng
Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu
Dưới công danh đeo khổ nhục
Trong dại dột có phong lưu
Mấy người ngày nọ thi đỗ
Lá ngô đồng thuở mạt thu.


4. Ngôn chí 3

Am trúc hiên mai ngày tháng qua
Thị phi nào đến cõi yên hà
Bữa ăn dầu có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là
Nước dưỡng cho thanh đìa thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải luống ương hoa
Trong khi hứng động vừa đêm tuyết
Ngâm được câu thần dắng dắng 1 ca.

1. Dắng dắng : cất tiếng, lên cao giọng. « dắng dắng ca » : ngâm hoài không thôi một hồi lâu

5. Ngôn chí 4

Giũ bao nhiêu bụi bụi lầm
Giơ tay áo đến tùng lâm
Rừng nhiều cây rợp hoa chầy động
Dường ít người đi cỏ kíp xâm
Thơ đới tục hiềm câu đới tục
Chủ vô tâm ỷ khách vô tâm
Trúc thông hiên vắng trong khi ấy
Năng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm.


6. ngôn chí 5

Làm người chẳng có đức cùng tài
Đi nghỉ đều thì kém hết hai
Hiểm hóc cửa quyền chăng đụt lặn
Thanh nhàn án sách hãy đeo đai
Dễ hay ruột bể sâu cạn
Khôn biết lòng người vắn dài
Sự thế dữ lành ai hỏi đến
Bảo rắng ông đã điếc hai tai.

21/08/2015
Đỗ Đình Tuân

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2015

Nhớ miền Tây






Cuối đời lại nhớ miền Tây
Bao năm mình chẳng về đây thăm nàng
Nàng còn ngồi quán bán hàng
Da nàng còn trắng, dáng nàng còn thanh…?
Ước gì về lại tuổi xanh
Để ta suốt chuyến tầu nhanh thăm nàng…

19/08/2015
Đỗ Đình Tuân

Không mưa






不雨
七月乌鹊桥不通
牛郎织女滞相逢
夫妻不见成无戾
不雨尘间热气浓
        杜庭询

Bất vũ

Thất nguyệt ô thước kiều bất thông
Ngưu Lang Chức Nữ trệ tương phùng
Phu thê bất kiến thành vô lệ
Bất vũ trần gian nhiệt khí nùng
                              Đỗ Đình Tuân

Không mưa

Tháng bẩy cầu chim quạ chửa xong
Ngưu Lang Chức Nữ chậm tương phùng
Vợ chồng không gặp nên không khóc
Hạ giới không mưa khí nóng nồng
                             Đỗ Đình Tuân


19/08/2015
Đỗ Đình Tuân

SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân