Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2015

Đọc Quốc âm thi tập (13)






73. Tự thán 3

Dương trường 1 đường hiểm khúc co que
Quê chợ bao nhiêu khách đẩy xe 2
Phú quý treo 3 sương ngọn cỏ
Công danh gửi kiến cành hòe 4
Phong lưu mòn mỏi ba đường cúc 5
Ngày tháng tiêu ma một bát chè
Chân chạy cánh bay ai mỗ phận 6
Thiên công 7 nào có thuở tư che.

1.Dường trường: ruột dê
2.Khách đẩy xe: TVG, PTĐ phiên là “để xe”. Đây là dịch chưc “thôi cốc” nghĩa là “đẩy xe” chỉ việc tiến cử người hiền tai. Ya câu thơ Nguyễn Trài: khắp chợ thì quê liệu có bao nhiêu người hảo tâm sẵn sàng tiến cử người hiền tài
3.Treo: TVG,PTĐ phiên là “liều”, Đ DA phiên là “dầu”, BVN, PS phiên là “treo”. Âm cổ là kleo
4.Kiến cành hòe: xem ở chú  “giấc hòe an”, bài 63
5 Ba đường cúc: do chữ “tam kính cúc” của Đào Tiềm
6. . Mỗ phận: phận sự từng loài, loài có cánh thì bay, loài có chân thì chạy
7. Thiên công: thợ trời tức hóa công


74. Tự thán 4

Non nước cùng ta đã có duyên
Được nhàn xá 1 dưỡng tính tự nhiên
Trường Canh 2 hỏi nguyệt tay dừng chén
Pha Lão 3 chơi thu khách nổi thuyền
Lòng chẳng mắc tham là của báu
Người mà hết lụy ấy thân tiên
Vua Nghiêu Tuấn, dân Nghiêu Thuấn
Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền.

1. Xá : hãy
2. Trường Canh : Một tên khác của sao Thái Bạch và cũng là tên riêng của Lý Bạch, nhà thơ đời Đường.
3. Pha Lão : ông già Pha tức Tô Đông Pha, tự Tử Chiêm, hiệu là Tô Thức, nhà thơ đời Tống. Mùa thu năm Nhâm Tuất 1082, ông đi chơi thuyền trên sông Xích Bích, có để lại hai bài phú « Tiền Xích Bích » và « Hậu Xích Bích » nổi tiếng.


75. Tự thán 5

Thiếu niên trường ốc tiếng hư bay
Phải lụy vì danh đã hổ thay
Đám cúc thông quen vầy bầu bạn
Cửa quyền quý ngại lượm chân tay 1
Qua đòi cảnh chắp 2 câu đòi cảlnh
Nhàn một ngày nên quyển một ngày
Tuổi đã năm mươi đầu đã bạc
Ấy còn bìu rịn lấy chi vay.

1. Lượm chân tay : chắp chân chắp tay, ý nói khúm lúm, khép nép
2. Chắp : TVG, PTĐ, Đ DA, BVN đều phiên là « chép ». Riêng PS phiên là « chắp ». Tân biên theo PS nên phiên là « chắp ».

76. Tự thán 6

Ở thế thường hiềm khác tục người
Đến đây rằng hết tiếng chê cười
Kể ngày con nước toan triều rặc 1
Vị chúng thằng chài chác cá tươi
Rượu đối cầm đâm thơ một thủ
Ta cùng bóng lẫn nguyệt ba người
Tai thường phỏng dạng 2  câu ai đọc
Rất 3 nhân sinh bảy tám mươi.

1. Toan triều rặc : tính con nước thủy triều xuống
2. Phỏng dạng : phảng phất nghe
3. Rất nhân sinh : TVG,PTĐ  phiên là « ít nhân sinh », các bản khác phiên là « rất nhân sinh »


77. Tự thán 7

Giàu chẳng kịp khó còn bằng 1
Danh lợi lòng đà ắt dửng dưng
Dò trúc xông qua làn suối
Tìm mai theo đạp bóng trăng
Giang sơn bát ngát kìa quê cũ
Tùng cúc bù trì 2 ấy việc hằng
Một phút thanh nhàn trong thuở ấy
Nghìn vàng ước đổi được hay chăng ?

1. Khó còn bằng: chỉ bằng những kẻ khó thôi.
2. Bù trì: giúp đỡ: ý câu thơ: chăm sóc vun bón tùng cúc là việc thường ngày.


78. Tự thán 8

Tiêu sái 1 tự nhiên nhẹ hết mình
Nài bao ngôi cả áng công danh
Vô tâm đìa có trăng bạc
Đắc thú 2 kho đầy gió thanh
Trẻ dầu chơi con tạo hóa
Già lọ phục thuốc 3 trường sinh
Dưỡng nhàn miễn được qua ngày tháng
Non nước còn ghe 4 chốn hữu tình.

1. Tiêu sái: phóng khoáng, thoát tục
2.Đắc thú: TVG, PTĐ phiên là “đắc ý”
3. Phục thuốc: uống thuốc.
4. Ghe: nhiều.


06/09/2015
Đỗ Đình Tuân

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2015

Đọc Quốc âm thi tập (12)






67. Thuật hứng 22

Chụm tự nhiên một tấm lều
Qua ngày tháng lấy đâu nhiều
Gió tạn 1 rèm thay chổi quét
Trăng kề cửa kẻo đèn khêu
Cơm ăn chẳng quản dưa muối
Áo mặc nài chi gấm thêu
Tựa gốc cây ngồi hóng mát
Đìu hiu 2 ta hãy một đìu hiu.


68. Thuật hứng 23

Bình sinh nhiễm được tật sơ cuồng 1
Con cháu nhiều ngày chịu khó dường
La ỷ 2 lấy đâu chăng lưới thưới 3
Hùng ngư 4 khôn kiếm phải thèm thuồng
Ao quan 5 thả gửi hai bè muống
Đất bụt ương nhờ một luống mùng
Còn có một lòng âu việc nước
Đêm đêm thức nhẫn 6 nẻo sơ chung.7

1.Sơ cuồng: phóng túng, không chịu sự bó buộc
2. La ỷ: lụa là
3.Lưới thưới: TVG. PTĐ phiên là “lướt thướt”, ĐDA phiên là “lái xái”, BVN phiên là “sếch sác”, PS (Pau Schneider) phiên là “rách rưới”
4. Hùng ngư: hùng là bàn tay bàn chân con gấu (hùng chưởng) ngư là cá mú(một loại cá ăn thịt ngon). Hùng ngư được coi là những món ăn quý
5. Ao quan: ao công
6. Nhẫn: đến , cho đến
7. Sơ chung: lúc có hồi chuông sớm đầu tiên.


69. Thuật hứng 24

Công danh đã được hợp về nhàn 1
Lành dữ âu chi thế ngợi khen 2
Ao cạn vớt bèo cấy muống
Đìa thanh phát cỏ ương sen
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy then
Bui có một lòng trung lẫn hiếu
Mài chăng khuyết nhuộm chăng đen.

1.Hợp về nhàn: ĐDA phiên là “chỉn về nhà” . “hợp” là từ cổ có nghĩa là đáng, nên.
2.Ngợi khen: TVG, ĐDA,… phiên là “ngợi khen”, BVN phiên là “nghị khen”


70. Thuật hứng 25

Lánh trần náu thú sơn lâm
Lá thông đàn tiếng trúc cầm
Sách cũ ngày tìm người hữu đạo
Đìa thanh đêm quyến nguyệt vô tâm
Say 1 hết tấc lòng hồng hộc 2
Hỏi làm chi sự cổ câm (kim)
Thế sự dầu ai hay buộc bện
Sen nào có bén trong lầm.3

1.Say: say sưa đọc sách
2. Hồng hộc: chim ngỗng trời, loài chim tiêu biểu cho người có chí lớn. Say hết tấc lòng hồng hộc: chuyên tâm đọc sách.
3. Lầm: bùn


71. Tự thán 1

Càng một ngày càng ngặt đến xương 1
Ắt vì số mệnh ắt văn chương
Người hiềm rằng cúc qua trùng cửu 2
Kẻ hãy bằng quỳ hướng thái dương 3
Chè thuở tiên 4 thì mình kín nước
Cầm khi đàn khiến thiếp thiêu hương
Non quê ngày nọ chiêm bao thấy
Viên hạc chẳng hờn lại những thương.

1. Ngặt đến xương: nghèo đến xương
2. Trùng cửu: ngày 9 tháng 9 âm lịch. Hoa cúc nở vào ngày trùng cửu mới quý, qua ngày ấy người ta không quý nữa. Ý câu thơ muốn nói mình bây giờ như “cúc qua trùng cửu”, người ta không cần đến mình nữa.
3. Thái dương: mặt trời. ý câu thơ muốn nói lòng mình vẫn như hoa quỳ luôn hướng về mặt trời.
4. Tiên: nấu

72. Tự thán 2

Non hoang tranh vẽ chập hai ngàn 1
Nước mấy dòng thanh ngọc mấy hàn 2
Niềm cũ sinh linh 3 đeo ắt nặng
Cật trưng hồ hải 4 đặt chưa an
Những vì thánh chúa âu đời trị
Há kể thân nhàn tiếc tuổi tàn
Thừa chỉ 5 ai rằng thời khó ngặt
Túi thơ chứa hết mọi giang san.

1.Chập hai ngàn: hai quả núi liền nhau
2.Ngọc mấy hàn: do chữ “hàn ngọc” (chỉ loại ngọc trong và lạnh), tượng trưng cho tâm hồn người thanh cao . ĐDA phiên là “ngọc mấy hòn”
3. Sinh linh: nhân dân nói chung
4. Cật trưng hồ hải: Cật là lưng, chỉ thân mình Trưng là bày ra. Ý cả câu: Mình còn phải lăn lộn với đời chưa về ở ẩn được
5. Thừa chỉ: Một chức quan. Năm Mậu Tuất (1428) Bình Định Vương (Lê Lợi) phong cho Nguyễn Trãi chức “Thừa chỉ học sĩ” , lúc ấy Nguyễn Trãi hơn 30 mươi tuổi.


05/09/015
Đỗ Đình Tuân

Về quê giỗ ngoại








04/09/2015
(22/07/Ất Mùi)
Đỗ Đình Tuân

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015

Đọc Quốc âm thi tập (11)






61. Thuật hứng 16

Già chơi dầu có của no dùng
Chén rượu câu thơ ấy hứng nồng
Ngỏ tênh hênh 1 nằm cửa trúc
Say lểu thểu đứng đường thông
Làm quan thờ dại 2 tài chăng đủ
Về ở thanh nhàn hẹn đã hồng 3
Rảng rảng 4 người rằng chuông ấy thạch
Đóng thời cũng có tiếng cong cong.

1. Tênh hênh: TVG phiên là “đành hanh”, ĐDA phiên là “đinh hinh”, BVN phiên là “tênh hênh” . Ngõ tênh hênh là cửa ngõ mở toang
2. Thờ dại: TVG phiên là “thơ dại”, BVN phiên là đã dại. ĐDA phiên là thờ dại, có nghĩa là khờ dại.
3. Hồng: TVG phiên là “nung”, ĐDA phiên là “hòng”, BVN phiên là “hồng”. Hẹn đã hồng là điều ước hẹn đã nung nấu trong lòng.
4. Rảng rảng: TVG, BVN phiên là “dăng dẳng”, ĐDA phiên là “lừng lựng”. nghĩa là nói to nói oang oang.


62. Thuật hứng 17

Thân nhàn dạo khắp tây đông
Đường tới mười thu khỏi bụi hồng
Diếp 1 huyện hoa 2 còn quyến khách
Rày biên tuyết 3 đã nên ông
Đành hay thương hải đòi thời biến
Đã biết nhân gian mọi sự không
Chẳng bượp 4 giang hồ nơi vắng vẻ
Cảnh thanh lọ ước cảnh non Bồng.

1.Diếp: trước kia
2. Huyện hoa: Xuất phát thừ điển tích: Phan Nhạc đời Tấn làm huyện lệnh Hà Dương, thuộc hạ trồng đào mận khắp huyện cho nên người ta nói rằng “Hà Dương” cả huyện hoa. Có lẽ Nguyễn Trãi muốn nhắc đến thời làm quan có nhiều khách đến.
3. Biên: mái tóc. Biên bạc: mái tóc bạc
4. Bượp: thiếu


63. Thuật hứng 18

Phú quý bao nhiêu người thế gian
Mơ mơ bằng 1 thuở giấc hòe an 2
Danh thơm một áng mây nổi
Bạn cũ ba thu 3 lá tàn
Lòng tiện soi dầu nhật nguyệt
Thề xưa hổ có giang san
Ấy còn cậy cục làm chi nữa
Nẻo cốt chưa nồng chẩm chửa toan. 4

1.Bằng: như
2.Giấc hòe an: tức Đại Hoaè An quốc, ten một nước tưởng tượng trong “Nam Kha ký” của Lý Công Tá đời Đường…Thuần Vu Phần uống rượu say, nàm ngủ, mơ thấy mình đi làm quan ở quận Nam Kha, nước Hòe An, được nhà vua gả công chúa cho…Đến khi tỉnh dậy, thì chỉ thấy ở thân cây hòe có một tổ kiến to mà thôi.. Do điển này mà giấc Hòe An (hay giấc Nam Kha) được dùng để nói rằng phú quý ở đời cũng chỉ hư ảo như giấc mộng mà thôi.
3. Ba thu: ba tháng mùa thu
4. Nẻo cốt chưa nồng chẩm chửa toan: Tân biên giải thích nghĩa của câu này là: Nẻo cốt (chỗ xương gáy sau sọ nơi để gối vào). Cả câu hàm ý: một khi chưa chưa có giấc mộng công hầu thì chưa toan tính chuyện mượn gối.


64. Thuật hứng 19

Chụm tự nhiên một thảo am
Dầu lòng đi bắc lẫn về nam
Giường thiền định 1 hùm nằm trực
Trái thì trai 2 vượn nhọc đam 3
Núi láng giếng chim bầu bạn
Mây khách khứa nguyệt anh tam 4
Tào khê 5 nửa ngàn tầm suối
Sạch chẳng còn một chút phàm.

1.Giường thiền định: giường người tu hành ngồi yên lặng đẻ ngẫm nghĩ về giáo lý đạo Phật. Dịch từ chữ Hán “Thiền sàng”
2.Trái thì trai: hoa quả có mùa
3. Đam: âm cổ của “đem”
4. Anh tam: anh em
5. Tào Khê: tên một nhánh sông ở đông nam huyện Khúc Giang tỉnh Quảng Đông. Theo “Truyền đăng lục” ở đây có ngôi chùa Bảo Lâm lập từ đời Lương (đầu thế kỷ thứ VI). Sang đời Đường nhà sư Tuệ Năng đến tu hành tại đây, trở thành vị tổ thứ 6 phái Thiền tông, cũng còn gọi là tổ Tào Khê.
Hai câu cuối bài thơ này ý tương tự hai câu cuối bài thơ chữ Hán “Du Nam Hoa tự” : Môn tiền nhất phải Tào Khê Thủy, Tấy tận nhân gian kiếp kiếp trần” (Trước cửa chùa có dòng nước Tào Khê, rửa sạch mọi bụi trần của kiếp người).

65. Thuật hứng 20

Non Phú Xuân 1 cao nước Vị thanh
Mây quyến nguyệt khách vô tình
Đất thiên tử dưỡng tôi thiên tử
Đời thái bình ca khúc thái bình
Cơm áo khôn đền 2 Nghiêu Thuấn trị
Tóc tơ chưa báo mẹ cha sinh
Rày mừng thiên hạ hai của
Tể tướng hiền tài chúa thánh minh.

1.Phú Xuân: tên một quả núiở tỉnh Chiết Giang, tương truyền là nơi Nghiêm Quang đời Hán đến ở ẩn tại đây.
2.Khôn đền: khó đền


66. Thuật hứng 21

Khó khăn thì mặc có màng bao
Càng khó bao nhiêu chí mới hào
Đại địa dày Nam Nhạc 1 khỏe
Cửu tiêu 2 vắng Bắc Thần 3 cao
Lấy khi đầm ấm pha khi lạnh
Giữ thuở khô khao có thuở dào 4
Kìa nẻo Tô Tần 5 ngày trước
Chưa đeo tướng ấn có ai chào.

1. Nam Nhạc: tức Hành Sơn hoặc Hoặc Sơn trong Ngũ Nhạc ở Trung Quốc. Nam Nhạc trong bài này chỉ nước Việt Nam.
2. Cửu tiêu: chín tầng mây
3. Bắc Thân: một tên khác của sao Bắc Đẩu
4. Dào: mưa rào
5. Tô Tần: một nhà thuyết khách thời Chiến Quốc, đua ra kế hoạch hợp tung liên kết 6 nước (Tề, Sở, Yên, Triệu, Hàn, Ngụy)để chống Tần. Lúc còn nghèo hèn, bị mọi người khinh rẻ, kể cả vợ, đến khi vinh hiển thì đi đâu ai cũng chào.


03/09/015
Đỗ Đình Tuân

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2015

Đọc Quốc âm thi tập (10)





55. Thuật hứng 10

Kim Cốc 1 phong lưu nữa để hoang 2
Hôm mai uổng chịu nhọc toan đang 3
Giầu mấy kiếp tham lam bấy
Sống bao lâu đáo để màng 4
La ỷ dập dìu hàng chợ họp
Cửa nhà bị rịn tổ ong tàng 5
Thiên thơ 6 áng sách qua ngày tháng
Một khắc cầm nên mấy lạng vàng.

1. Kim Cốc : xem chú thích ở bài 45
2. Nữa để hoang: rồi cũng đến bỏ hoang.
3. Nhọc toan đang: nhọc lòng tính toán
4. Đảo để màng: lo nghĩ ráo riết
5. Tổ ong tàng: tổ ong xơ xác bỏ hoang
6. Thiên thơ: bài thơ.


56. Thuật hứng 11

Ruộng đôi ba khóm 1 đất con ong 2
Đầy tớ hay cày kẻo muộn mòng 3
Sự có cầu người nên rẻ mặt
Phận tuy rằng khó miễn yên lòng
Thu im cửa trúc mây phủ
Xuân tạnh đường hoa gấm phong
Ai có của thông 4 phòng thết khách
Một ao niềng niễng 5 mấy đòng đong.6

1. Khóm: đám, thửa
2. Đất con ong: Đất xầu, vón cục lổn nhổn như con ong
3. Kẻo muộn mòng: khỏi phải thuê mướn
4. Của thông: thông là đầy đủ. Của thông là của đầy đủ
5. Niềng niễng: một loại côn trùng cánh cứng sống ở ao bùn, rang ăn giòn ngậy.
6. Đòng đong: một loại cá nhỏ, cũng như cân cấn.


57. Thuật hứng 12

Nhà ngặt bằng ta 1 ai kẻ vì 2
Khó khăn phải lụy đến thê nhi 3
Đắc thời thân thích chen chân đến
Thất sở làng giềng ngảnh mặt đi
Lều tiện Nhan Uyên 4 tìm đến đỗ
Đường cùng Nguyễn Tịch 5 khóc làm chi
Thư song vắng vẻ nhàn vô sự
Tai chẳng còn nghe tiếng thị phi.

1. Nhà ngặt bằng ta : nhà nghèo như nhà ta
2. Ai kẻ vì : ai là người vị nể, tức không có người vì nể
3. Thê nhi : vợ con
4. Nhan Uyên: xem chú thích ở bài 12
5. Nguyễn Tịch:Người nước Ngụy thời Tam Quốc, là một trong trúc lâm thất hiền, học rộng,  hát giỏi, đàn hay, thích uống rượu. Nghe nói nhà bếp bộ binh nấu rượu khéo, chứa 300 hộc rượu, ông xin làm bộ binh hiệu úy. Có khi cao hứng đánh xe đi chơi, đến đường cùng thì òa khóc mà quay trở về.


58. Thuật hứng 13

Buồng văn đắp cửa trọn ngày thu
Đèn sách nhàn làm song viết  nho
Thua được toan chi cơ Hán Sở 1
Nên chăng đành nhẽ kiện Thương Chu 2
Say mùi đạo chè ba chén
Tả lòng phiền thơ bốn câu
Khó miễn vui 3 chăng thửa sách 4
Vì chưng đời có chúa Đường Ngu.5


1. Hán Sở: Hán chỉ Lưu Bang, Sở chỉ Hạng Vũ. Lúc đầu hai bên liên minh để diệt Tần, giết Tần Vương, đốt Hàm Dương, tự xưng là Tây Sở Bá vương, chia thiên hạ cho các tướng làm vua các nước chư hầu. Lập Bái Công (tức Lưu Bang làm Hán vương. Sau Hán và Sở đánh nhau tranh thiên hạ, cuối cùng Hán thắng, Sở bại(207-202 trước Tây lịch)
2. Thương Chu: Vua cuối cùng của nhà Thương (1766-1122 trước Tây lịch) là vua Trụ bạo ngược. Vũ vương đem quân đánh Trụ, diệt nhà Thương lập nên nhà Chu (1122-256 trước Tây lịch)
3. Khó miễn vui:nghèo khó miền là an vui
4. Chăng thửa trách: không có điều gì oán trách cả
5. Chúa Đường Ngu: tức Đường Nghiêu và Ngu Thuấn là hai vị minh chúa thời thượng cổ bên Trung Quốc. Dưới đời hai vua này thiên hạ thái bình thịnh trị.


59. Thuật hứng 14

Am quê về ở dưỡng nhàn chơi
Yên phận yên lòng kẻo tiếng hơi
Ta quản tiêu dao qua mỗ thế
Ai từng phú quý mấy trăm đời
Thân nhàn đến chốn dầu tự tại 1
Xuân muộn nào hoa chẳng rụng rời
Nhẫn thấy 2 Ngu Công 3 tua xá hỏi
Non từ nay mựa tốn công dời.

1. Đến chốn dầu tự tại: đến đâu cũng ung dung thanh thản
2. Nhẫn thấy: nhìn thấy
3. Ngu Công: ở bắc Sơn, tuổi đã 90 mà còn muốn san bằng hai quả núi Thái Hàng và Vương Ốc ở trước nhà mình. Có người thấy thế cười, ông nói: “Ta chết thì có con ta, con lạiu sinh cháu, cháu lại sinh con nữa, mà núi thì không lớn thêm, lo chi mà không san bằng?”.





60. Thuật hứng 15

Ngại ở nhân gian lưới trần 1
Thì nằm thôn dã miễn yên thân
Trúc mai 2 chẳng phụ lòng quân tử
Viên hạc đà quen bạn dật dân 3
Hái cúc ương lan hương bén áo
Tìm mai đạp nguyệt nước xâm 4 khăn
Đàn cầm suối trong tai dọi 5
Còn một non xanh là cố nhân.

1. Lưới trần : cõi trần tục như cái lưới vây bủa người ta
2. Trúc mai : Hai loài cây có cốt cách thanh cao được xem là bạn của người quân tử
3.Bạn dật dân : người có đức có tài mà bỏ công danh đi ở ẩn
4.Xâm : thấm
5. dọi : TVG, BVN phiên là dõi. ĐDA phiên là dội. Tân biên phiên là dọi.


02/09/2015
Đỗ Đình Tuân

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2015

Đọc Quốc âm thi tập (9)






49. Thuật hứng 4

Văn này 1 ngẫm thấy mỗ thon von 2
Thương hải 3 hay khao 4 thiết thạch mòn
Chí cũ ta liều 5 nhiều sự hóc
Người xưa sử chép thấy ai còn
Nguyệt xuyên há dễ thâu 6 lòng trúc
Nước chảy âu khôn xiết 7 bóng non
Song viết lại toan nào của tích
Bạc mai vàng cúc để cho con.

1. Văn này: dịch chữ “tư văn” trong hán tự chỉ chung đạo nho đạo thánh hiền.
2. Thon von: mòn mỏi suy đồi
3. Thương hải: biển xanh
4. Khao : Khô khao
5. Liều : đọc biến âm của chữ « liệu » nghĩa là lường tính trước.
6. Thâu : thấu tới
7. Xiết : cuốn trôi


50. thuật hứng 5

Đến trường đào mận ngạc 1 chăng thông
Quê cũ ưa làm chủ cúc thông
Sầu nặng Thiếu Lăng 2 biên đã bạc
Hứng nhiều Bắc Hải 3 chén chưa không
Mai chăng bẻ thương cành ngọc
Trúc nhặt vun tiếc cháu rồng 4
Bui một tấc lòng ưu ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nước chầu đông.

1. Ngạc : nghẽn tắc
2.Thiếu Lăng : tên hiệu của Đỗ Phủ, nhà thơ đời Đường
3.Bắc Hải : chỉ Khổng Dung đời hậu Hán, từng làm quan ở Bắc Hải (tỉnh Sơn Đông), người đời gọi ông là Khổng Bắc Hải, tính hiếu khách.
4. Cháu rồng : TVG phiên là « chiếu rống ». ĐDA, BVN phiên là « cháu rồng ». Chữ Hán là « long tôn ». Ở Thần châu có một giống trúc rất nhỏ mọc trong hàng núi tên là long tôn. Nghĩa cả câu sáu là « thường vun bụi trúc cho măng mọc »


51. Thuật hứng 6

Cảnh cũ non quê nhặt chốc mòng 1
Chiêm bao ngỡ đã đến trong
Chè tiên nước kín bầu in nguyệt
Mai rụng hoa đeo bóng cách song
Gió nhặt 2 đưa qua trúc ổ 3
Mây tuôn phủ rợp thư phòng
Thức nằm nghĩ ngợi còn mường tượng
Lá chưa ai quét cửa thông.4


1. Nhặt chốc mòng : tưởng nhớ luôn luôn không khuây được.
2. Gió gấp, thổi liên tục
3. Trúc ổ : khóm trúc, bụi trúc
4. Cửa thông : cửa có trồng thông.


52. Thuật hứng 7

Con lều mòn mọn đẹp sao
Trần thế chăng cho bén mỗ hào 1
Khách lạ đến ngàn hoa chửa rụng
Câu mầu 2 ngâm dạ nguyệt 3 càng cao
Những màng 4 lẩn quất vườn lan cúc
Ắt ngại lanh tranh 5 áng mận đào
Ngựa ngựa xe xe la ỷ tốt 6
Dập dìu là ấy chiêm bao.

1. Bén mỗ hào : dính một mảy may
2. Câu mầu : câu thơ hay tuyệt diệu
3. Dạ nguyệt : vầng trăng
4. Những màng : những mong
5. lanh tranh:lăng xăng chạy vạy
6. La ỷ tốt: quần áo đẹp


53. Thuật hứng 8

Hễ kẻ làm quan đã có duyên
Tới lui mặc phận tự nhiên
Thân xưa hương hỏa chăng còn ước
Chí cũ công danh đã phỉ nguyền
Trẻ hòa sang 1 ấy phúc
Gìà được trọn 2 là tiên
Cho về cho ở đều ơn chúa
Lọ phải xun xoăn đến cửa quyền.


1. Thân xưa hương hỏa : do từ nhà Phật “hương hỏa nhân duyên”. Người xưa lúc thề nguyền thường đốt hương để cáo với thần linh, vì thế cái nhân duyên đã thề nguyền từ trước gọi là « hương hỏa nhân duyên. Ở đây nguyễn trãi nói « thân xưa hương hỏa » là nói ý này.
2. Trẻ hòa sang : trẻ mà được quý hiển (đỗ đạt, làm quan)
3. Già được trọn : được sống trọn tuổi trời, sinh thuận, tử an, trọn thân danh
4. Xun xoăn : xem chú thích bài 38


54. Thuật hứng 9

Cội cây 1 la đá 2 lấy làm nhà
Lân các 3 ai hầu mạc 4 đến ta
Non lạ nước thanh làm dấu
Đất phàm cõi tục cách xa
Thiên Thai 5 hái thuốc duyên gặp
Vị Thủy 6 gieo câu tuổi già
Cốt lạnh hồn thanh chăng khứng hóa 7
Âu còn nợ chúa cùng cha.

1. Cội cây :ĐDA phiên là cối cây và hiểu là cây cối nói chung. Tân biên phiên là « cội cây » và hiểu là gốc cây.
2. La đá : ĐDA phiên là « là đá » xem « là » là hệ từ. Tân biên phiên là « la đá » một từ kép chỉ đá nói chung.
3. Lân các : gác lân, Hán Tuyên đế sai vẽ tượng 11 công thần đời Hán đặt ở đây để lưu trữ vàvinh danh.
4. Mạc : vẽ
5. Thiên Thai : tên núi ở huyện Thiên Thai tỉnh Chiết Giang. Lưu Thần và Nguyễn Triệu đời Hán nhân tiết Đoan ngọ (mồng 5 tháng 5) vào núi Thiên Thai hái thuốc, gặp hai tiên nữ, kết duyên vợ chồng. Được một năm hai chàng nhớ nhà, từ giã mà về. Sau Lưu, Nguyễn muốn trở lại núi với tiên nữ, nhung không nhớ đường.
6. Vi Thủy : Tên sông phát nguyên ở Cam Túc, chảy vào Hoàng Hà ở Thiểm Tây. Lữ Thượng gặp thời vua Trụ bạo ngược, ở ẩn câu cá bên bờ sông Vị, lúc gặp Chu Văn Vương thì đã 80 tuổi, ra giúp Văn Vương, Vũ Vương lập nên cơ nghiệp nhà Chu.
7. Chẳng khứng hóa : không chịu thay đổi cái cốt cách thanh cao tâm hồn trong sạch của mình.

01/09/2015
Đỗ Đình Tuân

Bún bìa







Từ ngày có mắm tôm ngon
Sáng ra khoái khẩu thường ăn bún bìa
Không cơm nguội khỏi nấu mì
Cứ mua mấy lạng bún bìa về xơi
Ước gì lắm bạn Nhung-Ngôi
Để khi ăn hết mắm rồi lại xin…?

01/09/2015
Đỗ Đình Tuân

SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân