Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 16






Bài 9

Giáp giang

Nguyên tác và phiên âm

夾江
Giáp giang
夾江重來路
Giáp giang trùng lai lộ
斜陽一棹輕
Tàdương nhất trạo khinh
群鷗入夜黑
Quần âu nhập dạ hắc
遠岫半空青
Viễn tụ bán không thanh
風急驚漁艇
Phong cấp kinh ngư đĩnh
沙深滞客程
Sa thâm trệ khách trình
旅懷無聊處
Lữ hoài vô liểu xứ
盡日海濤聲
Tận nhật hải đào thanh

Dịch nghĩa: Sông ghép *

Đường lại qua sông Ghép lần nữa
Một mái chèo bơi nhẹ dưới bóng tà dương
Đàn chim âu nhập vào bóng tối trong ngày càng đen
Những ngọn núi xa xanh nhô lên lưng trời
Gió giật thuyền đánh cá khiếp sợ
Cát nhiều làm chậm bước đi của khách
Nỗi buồn nhất của kẻ xa nhà
Là suốt ngày phải nghe tiếng sóng biển gầm.


* Sông Ghép: thuôc địa phận huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa


Dịch thơ:

Lại qua sông Ghép ngày xưa
Chiều vàng một mái nhẹ đưa con thuyền
Đàn âu vào tối càng đen
Núi xa xanh ngắt nhô lên lưng trời
Thuyền câu gió đánh tơi bời
Đường đi lắm cát như lùi bước chân
Buồn nào bằng kẻ đơn thân
Cuối ngày nghe tiếng sóng gầm bên tai.
                                Đỗ Đình Tuân
                                   (Dịch thơ)

8/11/2014
Đỗ Đình Tuân

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

Xướng họa với bác Hoàng Vinh *






Thứ cho tôi
(Bài họa)

Chỉ xin huynh trưởng thứ cho tôi
Dấp dính vài phiên đã phải rời
Bởi chí không bền tâm chẳng vững
Nhiệt tình sớm nguội ý mau vơi
Lời khen bền bỉ em nhường bác
Cái tiếng kiên gan bác để đời
Dẫu mấy rã rời xin cứ gắng
Giữ gìn èo ẹt cái vui chơi.
                      Đỗ Đình Tuân

*Bác Hoàng Vinh: Chủ nhiệm CLB thơ của Hội Người Cao Tuổi phường Sao Đỏ, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Quyết chẳng rời
(Bài xướng)

Cám ơn các bạn đã cùng tôi
Sát cánh bên nhau quyết chẳng rời
Bão tố bao lần tâm vẫn vững
Gió dông mấy đận trí không vơi
Lời thơ chúc tết vui thêm tuổi
Tiếng hát mừng xuân đẹp cuộc đời
Đoàn kết chung lưng xây dựng hội
Giữ gìn trong sáng mãi sân chơi.
                         Hoàng Vinh

8/11/2014
Đỗ Đình Tuân

Góc Hà Nội










8/11/2014
Đỗ Đình Tuân

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 15





Bài 8

Dạ sơn miếu

Nguyên tác và phiên âm

夜山廟
Dạ sơn miếu
争戰何年局已殘
Tranh chiến hà niên cục dĩ tàn
樓薹空在半山間
Lâu đài không tại bán sơn gian
螺城興癈幾先定
Loa Thành hưng phế cơ tiên định
龟爪存亡事不官
Quy chảo tồn vong sự bất quan
梅驛客來非雀狎
Mai dịch khách lai phi tước hiệp
松林雨過暮鴉寒
Tùng lâm vũ quá mộ nha hàn
霸王事業千秋後
Bá vương sự nghiệp thiên thu hậu
煙樹倉茫一夜山
Yên thụ thương mang nhất dạ sơn

Dịch nghĩa: Đền thờ trên núi Dạ Sơn 1

Cuộc chiến năm nào đã tàn lâu rồi
Lâu đài còn trơ lại trên lưng chừng núi
Sự hưng phế của Loa thành 2 do cơ định trước
Cái móng rùa 3 còn hay mất chẳng liên quan gì
Khách qua trạm  mai dịch đàn công bay
Mưa tạnh rừng thông tiếng quạ kêu lạnh
Sự nghiệp bá vương sau nghìn năm
Chỉ thấy trên núi Dại Sơn khói cây man mác

Dịch thơ:

Chiến tranh xưa đã tàn rồi
Lâu đài còn đó lưng đồi trơ vơ
Xui nên hưng phế thành Loa
Móng rùa còn mất chẳng qua trời bày
Trạm mai khách đến công bay
Rừng thông mưa tạnh quạ bầy kêu vang
Nghìn sau sự nghiệp bá vương
Chỉ còn cây khói Dạ Sơn mơ màng.
                           Đỗ Đình Tuân
                             (Dịch thơ)

Chú thích:
  1. Núi Dạ Sơn: tức núi Mộ Dạ thuộc tỉnh Nghệ An, cũng gọi là núi Cuông (tiếng Nghệ An cuông có nghĩa là công). Tục truyền ở nơi này ngày xưa có nhiều công nên gọi thế. Trên núi có đền thờ An Dương Vương nhà Thục, cũng gọi là Đền Cuông.
  2. Loa Thành: tức thành Cổ Loa do An Dương Vương xây. Sử chép là xây theo hình xoáy chôn ốc nên gọi là Loa Thành. Nay thuộc Sóc Sơn, Hà Nội.
  3. Móng rùa: Tục truyền An Dương Vương nhà Thục được thần Kim Quy (rùa vàng) cho một cái móng đem chế thành để làm cái nẫy LINH QUANG THẦN NỎ, bắn một phát được hàng trăm mũi tên, giặc sợ không dám xâm phạm. Triệu Đà vốn có ý dòm ngó nước Thục mới cho con trai là Trọng Thủy sang cầu hôn với Mỵ Châu, con gái An Dương Vương, để tìm cách vô hiệu hóa nỏ thần. Trọng Thủy vừa ở rể, vừa tìm cách ăn cắp móng rùa (nẫy nỏ thần) đem về cho Triệu Đà. Đà bèn cất quân sang đánh và diệt nước Thục.


8/11/2014
Đỗ Đình Tuân

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 14





Bài 6

Lưu giản thị môn đệ

Nguyên tác và phiên âm

留柬示門弟
Lưu giản thị môn đệ
蕭蕭風雨入秋聲
Tiêu tiêu phong vũ nhập thu thanh
萬里歸懷一日生
Vạn lý quy hoài nhất nhật sinh
堂北有親難久別
Đường bắc hữu thân nan cửu biệt
席西如我曷爲情
Tịch tây vi ngã hạt vi tình
書燈照客心猶白
Thư đăng chiếu khách tâm do bạch
江月隨人色共明
Giang nguyệt tùy nhân sắc cộng minh
斑馬欲行行且止
Ban mã dục hành hành thả chỉ
明朝卧聽海濤鳴
Minh chiêu ngọa thính hải đào minh

Dịch nghĩa: viết để lại cho các học trò

Gió mưa dào dạt hòa thành điệu thu thanh
Một sớm nhớ quê xa muôn dặm nẩy ra ý muốn về
Thềm bắc còn có mẹ già vắng mãi sao được
Ngồi chiếu phía tây như mình sao cho yên dạ
Ngọn đèn đọc sách soi tỏ lòng nhau
Mảnh trăng trên sông theo  người rọi sáng
Vó ngựa chia phôi toan bước lại dừng
Chỉ sớm mai là đã nằm nghe sóng bể.

Dịch thơ:

Ngày thu mưa gió rít lê thê
Bỗng nảy trong lòng nỗi nhớ quê
Thềm bắc mẹ già không thể bẵng
Chiếu tây đầu trẻ có chăng thì
Ngọn đèn đọc sách lòng nhau tỏ
Trăng sáng theo người đáy nước đi
Vó ngựa chia phôi đi chẳng dứt
Ngày mai sóng biển đã nằm nghe.
                          Đỗ Đình Tuân
                             (Dịch thơ)

6/11/2014
Đỗ Đình Tuân

Bơ vơ ngẫu cảm





 
Chiều tà, người bỏ chợ
Người đi tìm vu vơ…
Hắn còn trơ thân mộc
Ngồi một mình với thơ…

Thơ không tình không ý
Câu chữ thành xác xơ
Bỏ nét nằm nét đứng
Hắn toan đi ở chùa

Chùa không thiếu oản chuối
Lại có nhiều ni cô
Sẵn nâu sồng má phấn
Hắn tha hồ nam mô…?


6/11/2014
Đỗ Đình Tuân

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 13






Bài 5

Dục thúy sơn

Nguyên tác và phiên âm

欲翠山
Dục thúy sơn
萬古青山在
Vạn cổ thanh sơn tại
何年欲翠山
Hà niên dục Thúy Sơn
孤城千仞落
Cô thành thiên nhận lạc
一寺半江平
Nhất tự bán giang bình
慧遠今何處
Tuệ viễn kim hà xứ
升庵尚有銘
Thăng am thượng hữu minh
斜陽懷古意
Tà dương hoài cổ ý
三兩暮禽聲
Tam lưỡng mộ cầm thanh

Dịch nghĩa: Núi Dục Thúy

Non xanh có từ muôn thuở xưa
Tên Dục Thúy năm nào mới đặt ?
Tòa thành đứng trơ vơ cao nghìn thước
Một ngôi chùa đứng chìa ra giữa dòng sông
Nhà sư Tuệ Viễn nay ở đâu ?
Am của ông Thăng Phủ vẫn còn tấm bia
Biết bao ý hoài cổ gợi lên lúc bóng xế
Đôi ba tiếng chim chiều thánh thót.

Dịch thơ:

Non xanh có tự ngàn xưa
Mà tên Dục Thúy bao giờ đặt đây ?
Bức thành nghìn thước cao xây
Chìa ngang ra giữa sông ngay một chùa
Nhà sư Tuệ Viễn nay mô
Mà am Thăng Phủ bây giờ còn bia ?
Nhớ người xưa bóng chiều về
Tiếng chim thưa thớt đây kia gợi buồn.
                                   Đỗ Đình Tuân
                                     (Dịch thơ)

6/11/2014
Đỗ Đình Tuân

SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân