Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

Danh nhân nho sĩ viết về Chí Linh 14



                                   Nguyễn Thiện Thuật
                                           (1841-1926)
                            
            Nguyễn Thiện Thuật, ng­­ười làng Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh H­­ng Yên, đậu cử nhân khoa Bính Tý(1876).Nguyễn Thiện Thuật là một trong những quan lại kiên quyết chủ tr­­ương kháng chiến chống thực dân Pháp khi chúng tiến hành xâm l­­ược nư­­ớc ta cuối thế kỷ XIX. Khi thực dân Pháp tiến đánh Bắc kỳ lần thứ hai, ông đang giữ chức Tán t­­ương quân vụ tỉnh Hải D­ư­ơng, cùng một số sĩ phu yêu n­­ước trong tỉnh đã đứng lên mộ quân đánh giặc.Ông đã liên hệ mật thiết với quan Tuần phủ Lạng-Bình  Lã Xuân Oai phối hợp tác chiến với quân Thanh đóng ở n­­ước ta lúc đó để cùng đánh Pháp.Triều đình Huế đầu hàng ra lệnh bãi binh, nh­­ưng ông đã cự tuyệt, ở lại cùng với nhân dân đánh giặc. Sau đó triều đình nhà Thanh thỏa hiệp với thực dân Pháp rút quân về n­­ước, ông phải bỏ sang Long Châu (Trung Quốc) để lánh nạn. Nh­­ưng đến năm 1885, hư­­ởng ứng chiếu Cần v­­ương ông lại trở về n­­ước kháng chiến. Ông đ­­ược vua Hàm Nghi cử giữ chức Bố chánh Hải D­ư­ơng, sau đó lại đ­­ược thăng Bắc kỳ hiệp thống quân vụ đại thần. Do có uy tín và đạo đức, ông đã trở thành vị thủ lĩnh của nghĩa quân Bãi Sậy. Căn cứ chính của nghĩa quân là vùng Bãi Sậy thuộc địa bàn các huyện Khoái Châu, Văn Giang, Văn Lâm thuộc tỉnh H­­ng Yên.Tại đây, nghĩa quân có thể khống chế những con đ­­ường giao thông thủy bộ chính ở đồng bằng và tỏa ra uy hiếp các tỉnh thành lớn. Mặc dù chỉ có vũ khí thô sơ, nh­ư­ng bằng lối đánh du kích, nghĩa quân d­­ưới sự chỉ huy của Nguyễn Thiện Thuật đã duy trì đ­ược cuộc kháng chiến trong ngót m­ười năm trời, ở một vùng đồng bằng không có rừng núi hiểm trở. Ban ngày cày ruộng, ban đêm đánh giặc, nghĩa quân Bãi Sậy đã biết dựa vào nhân dân, ẩn hiện bất th­­ường, đánh địch bằng mọi cách và bằng mọi ph­­ương tiện.
            Năm1889, ông bị đội quân tuần tiễu của Hoàng Cao Khải bao vây ở căn cứ Hai sông nh­­ưng đ­­ược Đốc Tít bố trí đ­­ưa sang Trung Quốc an toàn.Tại Trung Quốc ông vẫn hằng mong có ngày trở về đất n­­ước xây dựng lại phong trào, nh­ư­ng tình thế ngày một khó khăn nên không thực hiện đ­­ược. Năm 1926 ông mất tại Trung Quốc.
            Nguyễn Thiện Thuật đã nêu cao ý chí kháng chiến, uy vũ của địch không khuất phục nổi ông. Địch đã bắt gia đình ông gồm hai m­­ươi ng­­ười để buộc ông đầu thú, như­­ng ông đã khẳng khái trả lời:Thà hy sinh cả gia đình chứ không thể ngừng chiến đấu. Các em và các con ông đều tham gia  phong trào cứu n­­ước và đều bị quân thù giết hại hoặc bắt tù đày.
            Với Chí Linh, Nguyễn Thiện Thuật còn để lại một bài thơ viết về Trần H­­ưng Đạo và đền Kiếp Bạc.
 
題陳興道祠
剎却衚元百萬兵
陳朝名相卓王靈
當年父子君臣義
亘估英雄豪桀名
滕海戎場春水闊
龠山祠廟暮雲平
願憑一剑清群醜
鬼毒如今甚伯灵 
                                                      
Phiên âm:
Đề Trần H­­ưng Đạo vư­­ơng từ
Sát kh­­ước hồ Nguyên bách vạn binh,
Trần triều danh t­­ướng trác vư­­ơng linh.
Đ­­ương niên phụ tử quân thần nghĩa,
Cắng cổ anh hùng hào kiệt danh.
Đằng hải nhung tr­­ường xuân thủy khoát,
Dư­­ợc Sơn từ miếu mộ vân bình.
Nguyện bằng nhất kiếm thanh quần xú,
Quỷ độc như­­ kim thậm Bá Linh.                              
Dịch nghĩa:
Đề đền Trần Hư­­ng Đạo
Giết phăng trăm vạn quân rợ Nguyên,
Vị t­­ướng tài đời Trần oai linh lừng lẫy.
Bên cha bên vua trong tình thế lúc ấy
đã giữ trọn đ­­ược nghĩa lớn,Tiếng tăm anh hùng hào kiệt còn truyền
                                                          mãi đến ngày nay.
Bãi trận trên sông Đằng n­­ước xuân man mác,
Ngôi đền chân núi D­­ược mây chiều phẳng lặng.
Muốn nhờ oai g­­ươm thiêng trừ hết loài quỷ xấu,
Chúng còn độc ác hơn cả Bá Linh thuở ấy.
Dịch thơ:
Quét sạch rợ Hồ trăm vạn binh
Triều Trần danh tướng khét oai linh
Trước sau luôn giữ lòng trung nghĩa
Kim cổ anh hùng bậc nhất danh
Chiến trận Đằng Giang sông nước rộng
Dược sơn đền miếu khói mây lành
Muốn nhờ thanh kiếm trừ gian xấu *
Chúng ác còn hơn cả Bá Linh.**
                        Đỗ Đình Tuân dịch
Ghi chú:
*-Gian xấu: ở đây chỉ bọn thực dân Pháp đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm l­ược c­ướp n­ước ta ngày ấy(cuối thế kỷ XIX).
**-Bá Linh: tức Nguyễn Nhan, tên t­ướng Nguyên hung ác, bị Trần H­ưng Đạo bắt và xử tử, ta th­ường gọi là Phạm Nhan (thằng tội phạm tên là Nhan).

30/12/2012
ĐĐình Tuân 



Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Lượm lặt từ sổ ghi chép cũ 18

                                Di ảnh nhà thơ, kiến trúc sư Chu Mạnh Trinh


                       Chê thơ Chu mạnh Trinh

Trong một buổi họp các nhag nho, ông Nguyễn Đình văn, người thôn Phượng Đình, xã Hoàng Long, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa bác bỏ cả hai loại ý kiến bàn về một bài thơ của Chu Mạnh Trinh:
Viếng Đạm Tiên, gặp Kim Trọng
Mầu xuân ai khéo vẽ nên tranh
Nô nức đua nhau hội đạp thanh
Phận bạc ngậm ngùi người chín suối
Duyên may run rủi khách ba sinh
Dưới hoa nép mặt gương lồng bóng
Ngàn liễu rung cương sóng gơn tình
Man mác vì đâu thêm ngán nỗi
Đường về chiêng đã gác chênh chênh
Ông Nguyễn Đình Văn phê bình như sau:  “Bài thơ ấy đầu đề là Viếng Đạm Tiên, gặp Kim Trọng mà cả tám câu chỉ có hai câu ba và bốn nói được ý gặp hai người thì phép tắc làm văn để ở đâu ? Đây là một bài thơ lạc đề thì dù hoa mỹ đến đâu cũng phải sổ toẹt”.
Các nhà thơ nghe nói đều giật mình. Họ đọc lại bài thơ và quả thấy đúng như lời phê bình nghiêm khắc của ông. Trầm trồ một lúc, họ bảo ông Nguyễn Đình Văn:
Thế bác có thể làm một bài khác cũng theo đầu đề ấy được không ? Nguyễn Đình Văn chần chừ một lúc rồi nhận lời. Ông đọc:
Ngày xuân dạo bước lúc thảnh thơi
Tình nọ duyên kia vướng vít hoài
Thương kẻ dấu giày in mặt đất
Nhớ ai mầu áo nhuộm da trời
Khóc cùng cây cỏ chừng e phận
Cười với non sông muốn ngỏ lời
Hội khách ba sinh người chín suối
Thấu lòng ai chửa hỡi ai ơi.
Cho đến nay không biết đã có bạn nào thẩm định lại xem Chu Mạnh Trinh và Nguyễn Đình Văn ai làm đúng đề hơn ?
                         (Theo giai thoại văn học Thanh hóa)
Nhân đọc lại giai thoại văn học này, Đỗ Đình Tuân muốn mời các “nhà thơ xóm Tri ân” cùng tham gia thẩm định giúp. Âu cũng là một dịp để cùng nhau mạn đàm trao đổi  về thơ Đường Luật. Xin trân trọng cám ơn trước.

30/10/2012
Đỗ Đình Tuân

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2012

Sau bão Sơn Tinh (Bão số 8/12)






Cơn bão trước mày trổ
Cơn bão này mày đổ.
                           Đỗ Đình Tuân










Chém cha cơn bão Sơn Tinh
Làm hai buồng chuối nhà mình đổ non
                                                Vũ Thị Song Thu

29/10/2012
Đỗ Đình Tuân

Lượm lặt từ sổ ghi chép cũ 17







Lên núi

Mọi người lên núi đọc kinh
Còn tôi lên núi nộp mình cho sương

Mọi người lên núi thỉnh chuông
Tôi lên YÊN TỬ lấy buồn làm vui

Tùng xanh đến thế thì thôi
Núi cao cốt để dắt người vào mây

Về đây uống núi mà say
Đọc kinh vô tự để bay một lần.

                               Phi Tuyết Ba

Chế Lan Viên nói về thơ

1… Một cô gái gương mặt đẹp; mắt, múi, miệng đều đẹp; mà người lùn dí, to bè, không co quắp gì thì đâu có hấp dẫn. Thơ cũng vậy. Trước hết phải đẹp toàn bài. Phải có ý của toàn bài, phải nhắm cái gì đã rồi mới nói đến câu.

2. Tổng thể bài thơ như cái quạt thì câu thơ như cái nan quạt và tứ thơ như cái đỉnh găm cái nan quạt lại: Không có cái đỉnh này, tức là không có tứ thơ, thì nan quạt dù vót đẹp, dù khắc chạm, bằng xương hay bằng ngà, thì cũng rời rã không thành quạt được đâu.

29/10/2012
Đỗ Đình Tuân

Nhành mai trước mộ



(Họa nguyên vận bài "Gọi tên" của Vancali:
Xem Blog Tạ Anh Ngôi 22/10/2012)
 
Nghe tin đâu dám ngỏ cùng ai
Thao thức năm canh những thở dài
Câu chuyện năm xưa dường sống dậy
Tấm hình ngày ấy vẫn không phai
Người về Phật quốc an nhiên vậy
Kẻ ở dương gian tiếc nuối hoài
Chuyện cũ từ đây đành khép lại
Trước mồ xin hóa một nhành mai.

29/10/2012
Đỗ Đình Tuân


Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2012

Bài thơ về mẹ đá



          Đền thờ "Thạch mẫu" ở Lê Lợi, Chí Linh



詠石母
千山終秀地多情
石母胞胎啓聖明
附佐陳朝攏國祚
扶持南越保民生
名藍劫泊多占仰
威鎭元朝最顯靈
或曰齊天重出世
斯言的是究窮經
                    缺名
Phiên âm:
Vịnh thạch mẫu
Thiên sơn chung tú địa đa tình
Thạch mẫu bào thai khải thánh minh
Phụ tá Trần triều long quốc tộ
Phù trì Nam Việt bảo dân sinh
Danh lam Kiếp Bạc đa chiêm ngưỡng
Uy trấn Nguyên triều tối hiển linh
Hoặc viết Tề Thiên trùng xuất thế
Tư ngôn đích thị cứu cùng kinh.
                             Khuyết danh
Dịch nghĩa:
Bài thơ về mẹ đá
Nghìn núi chung đúc vẻ đẹp, đất cũng đa tình
Mẹ đá mang thai sinh ra vị thánh sáng suốt
Giúp nhà trần đưa đất nước đến chỗ hưng thịnh
Phù trì nước Nam Việt bảo vệ cuộc sống dân lành
Cảnh đẹp ở Kiếp Bạc nhiều người xem ngắm
Uy chặn giữ giặc Nguyên ở đây rất linh ứng
Có kẻ nói đây là Tề Thiên xuất thế trở lại
Lời nói ấy không thấy có trong sách nào.

Sinh thực khí của Thạch mẫu, tương truyền là nơi sinh ra Đức thánh Phi Bồng


Dịch thơ
Nghìn non đẹp đẽ đất đa tình
Mẹ đá mang thai để thánh sinh
Giúp đỡ nhà Trần đưa nước thịnh
Phù trì Nam Vit giúp dân sinh
Cảnh quan Kiếp Bạc nhiều xem ngắm
Uy chặn triều Nguyên rất hiển linh
Người nói Tề Thiên lại xuất thế
Điều này không thấy có trong kinh.
                       Đỗ Đình Tuân dịch

27/12/2012
Đỗ Đình Tuân
(Sưu tầm và dịch)

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

Lượm lặt từ sổ ghi chép cũ 16






Thăm bạn ở bệnh viện về

Chưa lui hết bệnh đã về
Nằm thêm thì sợ bỏ bê ruộng đồng
Cảnh nhà miệng đói con đông
Giấy tờ bảo hiểm lương không có gì

Nước da rừng xám như chì
Giờ đen nhùi nhụi cả thì nắng nôi
Không buồm cánh én cánh dơi
Thuyền in ra mé chân trời được đâu

Thôi thì ngải cứu buộc đầu
Đau xương cạo gió xoa dầu xũng xong
Thà đêm co quắp ngủ nong
Còn hơn những kẻ nằm cong ván giường

Ngày đi mù mịt khói sương
Dấn thân vào bãi chiến trường nhẹ không
Ngắt ngang ngọn gió thành giông
Nghiêng trời đổ nước xuống sông bừng bừng

Bây giờ chớp lặn sấm ngưng
Thì đem gân cốt bện thừng đóng đai
Mồ hôi bê bết tóc tai
Tung chăn bạn đứng ra ngoài nồi xông

Tôi nhìn ngực bạn phập phồng
Nghĩ mình nhiều lúc sống không ra gì
Đã không giống những người đi
Còn hay toan tính so bì đâu đâu

Chữ ưa đánh bóng quang dầu
Trăm câu thơ viết nghìn câu huê tình.

                                   Hải Thanh

1. Đầu óc thô thiển đẻ ra thứ thơ không tư tưởng. Tâm hồn khô cứng đẻ ra thứ thơ không hồn. Tâm hồn thấp bé đẻ ra thứ thơ vặt vãnh. Nghệ thuật kém cỏi đẻ ra thứ thơ “con cóc”. Lòng yêu thích thơ tuyệt nhiên không thể bù đắp những khuyết tật ấy.
                                                         Lãng Văn

2. Phút linh cầu mãi không về
Bâng khuâng giấy trắng chưa hề mực đen.
                                                       Hồ ZDếnh

3. Thơ thật sự phải truyền miệng trong quần chúng rồi sau mới in thành sách.
                                                       A Đam Míckêvich

4. Thơ không có mới cũ, chỉ có thơ dở và thơ hay.
                                                       Bích Khê

5. Phàm trong thơ, câu mở đầu nên như pháo nổ, tiếng vang nhanh và mau dứt. Câu kết nên như chuông kêu, tiếng trong mà dư âm.
                                                       Tạ Trần (Trung Quốc)

27/10/2012
Đỗ Đình Tuân


SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân