Thứ Năm, 27 tháng 10, 2016

Điểm diện 32: Thanh Tịnh




32. Thanh Tịnh  (1911-1988)

Bao năm ngậm ngải tìm trầm
Giã từ quê mẹ xa dòng Hương giang
Bạc đầu mới biết lạc đường
Tay không nay lại vẫn hoàn tay không
Mộng làm giọt nước ôm sông
Ôm sông chẳng được tơ lòng gió bay.
                         Xuân Sách

-Ngậm ngải tìm trầm : truyện ngắn 1943
-…

Bài tham khảo

Nhà thơ Thanh Tịnh 'giấu niềm đau vui sống với đời'
Rất nhiều câu chuyện và những kỷ niệm về nhà thơ Thanh Tịnh được đồng nghiệp, anh em bạn bè kể lại trong lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông (1911 - 2011) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức.

Nguyễn Xuân Thủy - 

“Gương mặt phôi pha” là từ mà nhà phê bình Hồng Diệu dùng để miêu tả về Thanh Tịnh. Vốn là quân của Nhà số 4 (Tạp chí Văn nghệ Quân đội) nên Hồng Diệu có nhiều kỷ niệm với nhà thơ Thanh Tịnh. Thế nhưng, cũng giống như nhiều tác giả trẻ khác khi về công tác tại Nhà số 4, Hồng Diệu cũng rụt rè, thường đứng từ xa ngắm nhìn chứ không dám lại gần, cái khoảng cách cần thiết cho một sự kính trọng. Quả tình, nếu nhìn những bức chân dung ít ỏi còn lại của Thanh Tịnh với chất lượng không được tốt, ai cũng có thể cảm nhận giống như nhà phê bình Hồng Diệu.
Nhà văn Nguyễn Khắc Trường chưa từng được sống và làm việc cùng Thanh Tịnh dưới mái nhà số 4, bởi khi ông về công tác thì Thanh Tịnh đã thôi làm quản lý tại đây, nhưng có một chi tiết về Thanh Tịnh do nhà văn Nguyễn Khải kể lại khiến ông ám ảnh đến tận hôm nay. Nguyễn Khải kể với Nguyễn Khắc Trường rằng, bình thường Thanh Tịnh rất điềm đạm, ít luận bàn về văn chương của anh em, thậm chí là của các đàn em nhưng những lời ông nói ra đều khiến người khác phải nể phục. Ngày ấy, dù Nguyễn Khải đã viết rất nhiều và có dư luận tốt nhưng chưa khi nào thấy Thanh Tịnh nhận xét về văn của Nguyễn Khải. Cho đến một lần, khi Nguyễn Khải in truyện ngắn “Sự ra đi của người con” Thanh Tịnh mới bảo: “Khải đã bắt đầu thành nhà văn rồi đấy, nhà văn là phải có giọng riêng”. Câu trao đổi ngắn ấy đã khiến Nguyễn Khải nhớ cả đời và luôn kể lại với anh em viết văn mà Nguyễn Khắc Trường cũng là người được nghe. Nguyễn Khắc Trường nói rằng, “thời gian ở nhà số 4, bên những tên tuổi lớn, tôi nghiệm ra rằng mình đã học được từ các anh cách sống nhiều hơn là cách viết”.
Năm 1946, từ Huế, Thanh Tịnh ra Việt Bắc họp Đại hội Văn hóa, đúng thời điểm ấy diễn ra Toàn quốc kháng chiến, ông đi theo cách mạng, cũng từ đó, chiến tranh đã chia cắt ông với quê hương, gia đình. Năm 1954, miền Bắc hòa bình, ông về phụ trách tờ Văn nghệ Quân đội và gắn bó với mảnh đất Thủ đô đến cuối đời. Những bạn văn sống cùng thời, những anh em văn nghệ sĩ từng có dịp sống gần Thanh Tịnh đều hiểu hoàn cảnh của ông. Chuyện riêng của Thanh Tịnh còn buồn hơn bất cứ trang văn nào. Quê hương ở Huế, nhưng cả phần sau của cuộc đời ông sống trên đất Bắc. Huế trong ông gắn liền với những hoài niệm buồn thương day dứt. Năm 1975, đất nước thống nhất, bao gia đình, bao người con kháng chiến vui với niềm vui chung, vui với niềm vui sum họp thì Thanh Tịnh không còn nơi để trở về. Do hoàn cảnh chia cắt và điều kiện bất khả kháng của những năm tháng quê hương trong lòng địch, vợ ông đã sống cùng một sĩ quan cộng hòa.
Tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Thanh Tịnh, PGS.TS Lưu Khánh Thơ (Viện Văn học) nói: “Đất nước 30 năm chiến tranh, bao con người phải chịu nỗi đau chia cắt, nhưng số phận Thanh Tịnh bi đát vào bậc nhất. Có gia đình vợ con từ sớm nhưng hầu như suốt đời ông chịu cảnh “ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân” (chữ của Thanh Tịnh). Chị ngậm ngùi chia sẻ, “trong số những người chịu ngang trái về mặt tình cảm phải chịu cảnh cô đơn trong giới văn nghệ sĩ thì trường hợp của Thanh Tịnh là kéo dài lặng lẽ và xót xa hơn cả”. Sau khi đất nước thống nhất, Thanh Tịnh chỉ về Huế duy nhất một lần, và việc làm duy nhất trong lần về Huế ấy là viết đơn xin bảo lãnh cho người chồng sau của vợ. Một đại tá cách mạng bảo lãnh cho một đại tá chế độ cũ vì một người phụ nữ mà họ yêu thương. Sau đó ông lại ra đi để lại sau lưng vợ con cùng một phần ký ức.
Nhà văn Hoàng Minh Châu, người có thời gian sống gần với Thanh Tịnh từ những năm trước cách mạng kể lại rằng, Thanh Tịnh lúc nào cũng vui vẻ, hài hước, ít khi để người khác thấy tâm trạng của ông. Có lần, sau một sự kiện rất vui vẻ, Thanh Tịnh nói với Hoàng Minh Châu, “Châu ơi, đừng tưởng mình cười nói vui vẻ thế là mình không có chuyện gì buồn nhé…”. Vốn kiệm lời và ít nói về mình, ông cũng chỉ dừng ở đấy. Hai bài học mà Hoàng Minh Châu rút ra từ cuộc đời Thanh Tịnh đó là niềm yêu đời, dù khó khăn mất mát, dù chuyện riêng tư có buồn đến thế nào thì Thanh Tịnh vẫn dành cho cuộc đời niềm lạc quan, vui sống; thứ hai, thơ văn của Thanh Tịnh trữ tình mà gần gũi như lời ăn tiếng nói của quần chúng, như hò vè ca dao, vì thế, đừng quên tiếng nói của công chúng.
Có rất nhiều câu chuyện, rất nhiều giai thoại mà anh em văn nghệ Nhà số 4 đến nay vẫn lưu truyền về nhà thơ Thanh Tịnh, trong đó có một kỷ niệm đến bây giờ nhớ lại vẫn khiến nhiều người rơi nước mắt. Những năm khó khăn, các nhà văn nhà thơ ở Nhà số 4 phải làm thêm bằng việc dán bìa các tông thành các hộp giấy, cuộc sống văn nghệ sĩ cơ cực muôn phần. Cuối năm ấy cơ quan được phân mỗi người một cân thịt lợn. Tất cả xì xụp ngồi rán phần của mình thành mỡ để mang về, đến lượt một nhà thơ trẻ, do đãng trí hay không có kinh nghiệm, nên khi rán xong đã đổ ngay mỡ đang sôi vào chiếc can nhựa, lúc sau quay lại thì thấy chiếc can đã nhũn ra, mỡ chảy hết. Cái Tết đã cận kề, nghĩ đến vợ con, vừa giận mình, vừa tủi, nhà thơ trẻ ngồi khóc. Thanh Tịnh đi qua nhìn thấy bèn mang suất của mình đưa cho nhà thơ trẻ. Rất nhiều năm sau, nhà thơ ấy vẫn kể lại và cứ ân hận mãi là “không hiểu sao lúc ấy tôi lại cầm suất thịt của Thanh Tịnh, tại sao tôi không nghĩ ra là tiêu chuẩn Tết thì ai cũng phải ăn, ai cũng phải sử dụng…”. Thanh Tịnh là thế, dù không nói nhưng nhìn vào cách cư xử của ông khiến người khác phải kính nể.
Cả cuộc đời Thanh Tịnh cống hiến cho văn nghệ cách mạng. Suốt một thời gian dài ông gắn bó với ngôi nhà số 4, gác gôn một trong những địa chỉ văn chương uy tín của đất nước, ông còn hết lòng tham gia công tác Hội Nhà văn. Thanh Tịnh đã sống đến những ngày cuối đời tại mảnh đất Thủ đô và mất vào ngày 17/7/1988. Đến năm 1991, ông đã được những anh em đồng đội ở Nhà số 4 đưa về an nghỉ dưới chân núi Thiên Thai, phía Tây thành phố Huế.
Tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Thanh Tịnh, Đại tá nhà văn Ngô Vĩnh Bình - Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ quân đội, nơi Thanh Tịnh đã có nhiều năm tháng gắn bó - đã bùi ngùi thông báo, trước đó một tuần, ông có điện cho con trai nhà thơ Thanh Tịnh là ông Trần Thanh Vệ đang sống ở Huế để mời ra dự lễ kỷ niệm nhưng vì một lý do khá đặc biệt ông Vệ không thể có mặt tại Hà Nội. Lý do ấy là, mẹ ông - người vợ duy nhất của nhà thơ Thanh Tịnh - vừa mất. Đó là một sự trùng hợp rất lạ, khi bà ra đi đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông.
Nhà thơ Thanh Tịnh tên thật là Trần Văn Ninh, sinh ngày 12/12/1911 tại xã Dương Nỗ, huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế. Ông là tác giả của phong trào Thơ mới cùng với những nhà thơ mở đầu như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư... Nhiều sáng tác thơ văn của ông được đưa vào sách giáo khoa, trong đó có bài “Tôi đi học” được nhiều thế hệ học sinh nhớ mãi. Sau Cách mạng tháng Tám, ông gia nhập Quân đội và trở thành nhà văn khoác áo lính. Thanh Tịnh nguyên là Đại tá, Chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông cũng là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, và là ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa I, II.

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2016

Điểm diện 31: Chính Hữu




31. Chính Hữu
      (1926-2007)

Tấm áo hào hoa bạc gió mưa
Anh thành đồng chí tự bao giờ
Trăng còn một mảnh treo đầu súng
Cái ghế quan trường giết chết thơ.
                      Xuân Sách

-Đồng chí: tên một bài thơ nổi tiếng chủa CH
-Đầu sung trăng treo: tập thơ 1966


Bài tham khảo


NHÀ THƠ CHÍNH HỮU: MÃI BÊN ĐỜI "ĐẦU SÚNG TRĂNG TREO"

Nhà thơ Hoàng Cát
 
Thế là nhà thơ Chính Hữu - một trong những nhà thơ nói ít nhất, viết ít nhất và hiền lành, nho nhã, điềm đạm nhất của nền thi ca Việt Nam đương đại chúng ta, đã qua đời ở tuổi 81, theo Tây lịch; còn theo lịch ta thì ông hưởng thọ 82 tuổi.
      Nhà thơ Chính Hữu

Chính Hữu là bút danh của nhà thơ; còn tên thật của ông là Trần Đình Đắc. Ông sinh ngày 15/12/1926 tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh – cùng huyện với nhà thơ Xuân Diệu, cùng tình với cả Xuân Diệu và Huy Cận. Chính Hữu thuộc lớp học sinh trung học thời Pháp thuộc sớm giác ngộ cách mạng, và sớm tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tuy là quê ở Hà tĩnh, nhưng tháng 12/1946 Chính Hữu đã là chiến sĩ cảm tử của Trung đoàn Thủ đô - một Trung đoàn nổi tiếng trong lịch sử đất nước chúng ta.

Thông minh, tài năng, dũng cảm và có trình độ văn hoá tương đối cao nên Chính Hữu trưởng thành và phát triển khá nhanh trong kháng chiến. Đến năm 1947 ông làm Chính trị viên Đại đội; sang năm 1949 đến 1952 là Phó trưởng ban Văn nghệ quân đội. Tại chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, Chính Hữu làm Chính trị viên Tiểu đoàn, thuộc Sư đoàn 308 lừng danh bách chiến bách thắng!

Sau hoà bình 1954 ở Miền Bắc, Chính Hữu giữ chức Phó Cục trưởng Cục tuyên huấn, thuộc Tổng cục Chính trị quân đội nhân dân Việt Nam.

Những năm sau này, khi đã chuyển ngành, Chính Hữu từng giữ chức Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khoá III rồi Uỷ viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam khoá IV.

Như đã nói ở trên, Chính Hữu là lớp người cuối cùng được học và chịu ảnh hưởng của văn học Pháp khá sâu đậm, đặc biệt là thơ Bô-đờ-le, ông có thể đọc qua nguyên bản bằng tiếng Pháp; nhưng đồng thời, ông cũng là một thanh niên giàu hoài bão và lý tưởng cao đẹp, sớm giác ngộ cách mạng và gia nhập quân đội nhân dân.

Từ trong thực tế cuộc sống cầm súng kháng chiến giành độc lập dân tộc, ông đã thật sự có những rung động để cho ra đời những bài thơ về chiến tranh, về người lính hết sức đặc sắc, độc đáo, mang đậm dấu ấn cá nhân tâm hồn, tính cách và phong thái thơ Chính Hữu sau này!

“Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn, quen nhau
Súng bên súng, đầu gác bên đầu
Đêm rét chung chăn
Thành đôi tri kỷ
Đồng chí.

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Bến nước gốc đa nhớ người ra lính…”

Những câu thơ trong trẻo, chân chất và giản dị - tưởng không gì giản dị và trong trẻo hơn được nữa nhưng nó lại giàu hình ảnh, giàu ngân rung và có sức gợi mở vô cùng!

“Đêm nay
Rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau
Chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”
Câu thơ của Huy Cận tặng Chính Hữu: Một đời đầu súng trăng treo/ Hồn thơ đeo đẳng bay theo chiến trường/ Tiếng lòng trong đọng hạt sương/ Cành hoa chiến địa mà gương tâm tình/ Cho hay thơ ở lòng mình/ Trăng hay súng vẫn bóng hình người thơ.


Thơ viết về thời kỳ đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam, thì Chính Hữu là nhà thơ có được những lời thơ đẹp nhất, lãng mạn nhất , và cũng là tuyệt đích nhất!

Chỉ tiếc rằng, ông đã là người viết quá khắt khe với chính mình, nên số trang tác phẩm của ông quá ư ít ỏi. Dẫu vậy, chúng ta hãy đọc những dòng tự bạch về nghiệp làm thơ sau đây của chính ông, hẳn rằng mỗi chúng ta càng thêm quý trọng về cái sự viết ít ấy của ông:

“Tôi thích những câu thơ hàm súc, cô đọng, nói rất ít nhưng gợi rất nhiều những tưởng tượng lan xa. Thơ phải ngắn ở câu chữ nhưng phải dài ở sự ngân vang…Tôi học tập các nhà thơ phương Đông khi họ nói :Phải kết hợp “xảo”(kỹ thuật tinh vi) với “phác” (mộc mạc, giản dị)…

Tôi không thấy có sự cần thiết phải làm nhiều , làm nhanh để làm ẩu. Tôi tự xác định mình chỉ nên là và chỉ có thể là một người làm thơ nghiệp dư, để có thể tự do. Để tự do chỉ viết những điều nội tâm mình thôi thúc phải viết, và tự do huỷ bỏ những cái viết ra nhưng không vừa ý”.


Thật là một lời tự bạch đầy trí tuệ, sâu sắc vô cùng!

Cả đời thơ hơn sáu mươi năm của mình, Chính Hữu chỉ có hai tập sách rất mỏng về số trang: Đầu súng trăng treo (in năm 1966) và Thơ Chính Hữu (Tuyển tập, in năm 1997)

Tuy vậy, ông đã hoàn toàn xứng đáng là một trong những nhà thơ đựoc nhận giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 2) về Văn học Nghệ thuật, năm 2000.

Thành kính nghiêng mình trước anh linh của Nhà thơ Chính Hữu. Xin cầu chúc cho ông an nghỉ giấc ngàn thu - sau một chặng đường dài sống, chiến đấu và lao động hết mình cho Tổ quốc và nhân dân thân yêu.

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016

Điểm diện 30: Hoàng Trung Thông





30. Hoàng Trung Thông
    (1925-1993)

Đường chúng ta đi trong gió lửa
Còn mơ chi tới những cánh buồm
Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất
Đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm
                                     Xuân Sách

-Bài ca vỡ đất: tên một bài thơ nổi tiếng của HTT
-Đường chúng ta đi: thơ 1960
-Những cánh buồm thơ 1964
-…

Bài tham khảo:

Đi tìm con người Hoàng Trung Thông

Nguyễn Huệ Chi

Cho đến giờ tôi vẫn không nắm bắt được con người thật của Hoàng Trung Thông mặc dù chính tôi đã từng chạm vào con người ấy. Trong một Hoàng Trung Thông có đến mấy con người, điều ấy thì chắc không khó để chúng ta nhất trí. Trước hết là con người chức vụ, kể từ khi là Tỉnh ủy viên Nghệ An cho đến tận khi đảm đương Vụ trưởng Vụ Văn nghệ sau hòa bình lập lại. Nhưng tôi dám quyết, con người chức vụ không phải là con người thật của ông, hay đúng hơn, lúc đầu nó là con người thật, rồi sau mười mấy năm từng trải, kinh qua những cuộc đấu đá trong các phong trào từ ngoài xã hội vào đến văn chương, hình như có cái gì đấy không hợp với tạng của mình, Hoàng Trung Thông đã xa lìa dần con người chức vụ một cách không tự giác. Cho đến khi về Viện Văn học thì tôi nghĩ, chức Viện trưởng với ông chỉ còn là chức phận, một nhiệm vụ do trên giao không thể không làm. Chẳng thế mà, với bản lĩnh, học vấn, và cách giải quyết mọi việc bằng phong thái từ tốn và đức vị tha hiếm có, ông có thể đã đóng góp cho Viện được rất nhiều vào thời điểm này. Chính ông đã hóa giải những mâu thuẫn rắc rối giữa ba ông Viện phó một cách nhẹ nhàng mà đến GS Đặng Thai Mai cũng không thể hóa giải nổi, làm cho Viện đang rất căng trở nên yên ổn. Ông lại có tấm lòng liên tài nên biết cách khuyến khích khéo léo những người thực sự có năng lực trong Viện, và có thể nói, sau khi ông về Viện được 3 năm, uy tín của Viện trưởng trong toàn Viện là một uy tín gần như tuyệt hảo, chinh phục người khác cả bằng lý và cả bằng tình. Đến mức trong lần bầu Giáo sư năm 1980, cả Viện đều bỏ phiếu chức danh Giáo sư cho ông, trong khi một số người tai mắt ở Viện khá nhiều năm chỉ bầu được Phó giáo sư mà thôi.

Thời kỳ ấy người ta kỳ vọng ở Hoàng Trung Thông rất nhiều và sự tín nhiệm đối với ông không chỉ bó hẹp trong Viện mà rộng ra ngoài xã hội. Giữa lúc các Viện trong Ủy ban Khoa học Xã hội không Viện nào có xe riêng, ông làm một bài thơ gửi lên ông Tố Hữu, thế là lập tức Viện Văn có xe Lada mới coóng, oai hơn bất kỳ một Viện nào.
Thế nhưng cũng thật lạ, Hoàng Trung Thông đã không dựa vào yếu tố “nhân hòa” nói trên mà tiến hành tổ chức lại Viện, chủ động tạo cho Viện một bước đột phá như nhiều người hết lòng chờ đợi. Chủ yếu, ông nắm lấy vai trò Tổng biên tập tờ tạp chí để sao cho không có bài nào “sinh sự”, còn thì cứ nhẩn nha như không. Ông khước từ chức vị Giáo sư ngay sau khi được cả Viện tín nhiệm, vì theo ông, làm một nhà thơ cũng đã là đủ lắm. Và hàng ngày ông hầu như không để nhiều thì giờ tính toán các mảng hoạt động khác nhau của Viện sao cho cân đối, thúc đẩy khâu này khâu nọ, mà mặc cho cỗ máy của Viện cứ thế vận hành theo đà vốn có từ xưa. Sự rời rạc loạc choạc vì thế dần dần nảy sinh. Ông chỉ quan tâm đến một vài bộ phận chuyên môn mà mình thích thú, đặc biệt là văn học cổ cận đại, và một phần nào văn học hiện đại, nên kết thân không giấu giếm với Ban văn học Cổ cận đại, kể cả việc chăm chút, góp ý cho các công trình của Ban này. Có vẻ như trong môi trường mà sự suy tưởng được đẩy lùi rất xa về quá khứ, những đàm đạo văn chương của ông trở nên thoải mái hơn, không còn bị vướng víu gò gẫm, cảm hứng cứ thế tự nó tuôn chảy. Vì thế, nhiều hôm đến Viện, ông chỉ ghé vào bàn làm việc một tí rồi đi thẳng xuống nhà tôi ở phía sau, gặp chuyện gì nói chuyện ấy đến hết buổi, nhưng tuyệt không đề cập đến chính trị cũng như nhân sự của Viện, không hé lộ thái độ riêng của mình về cách nhìn cách nghĩ đối với một người cụ thể nào. Thậm chí có hôm để mua vui cho con gái tôi mới chừng 8, 9 tuổi, ông đã dùng tay trồng cây chuối và đi một vòng bằng hai tay, chân chổng ngược lên trời, giữa cái nền nhà chỉ được chừng 12 mét vuông, làm con tôi cười như nắc nẻ.


Tôi đoán chắc ông có điều gì đó giấu kín trong lòng không thể cởi ra với người khác, nên chỉ lấy chơi đùa, và luận bàn văn chương cổ điển làm thú khuây giải. Có lần chị Băng Thanh nói với tôi ông có đọc cho chị ấy nghe hai câu thơ chữ Hán, đại khái: “Thủy thiển hồ hàn ngư bất đa - Điếu ông tranh tụ nại như hà?” (Hồ lạnh nước nông cá chẳng nhiều – Ông câu chen chúc khổ bao nhiêu). Tâm sự ấy cho thấy, việc ông càng về sau càng không làm tròn phận sự của một Viện trưởng không phải là một sự lười nhác mà có nguyên nhân sâu xa của nó, được kết đọng qua một chuỗi dài nhiều năm dấn thân và chứng kiến nhân tình thế thái, tuy sự nghiệp vẫn hanh thông nhưng trong trái tim trung thực của một nghệ sĩ đã phải mang những vết khía không sao chịu nổi. Vì thế, đánh giá hành vi của ông vào những năm cuối thời kỳ ở Viện theo một chiều hướng nào tôi nghĩ đều là không đơn giản:
Tôi muốn uống rượu trong
Lại phải uống rượu đục
Chao! Sông cũng như người
Có khúc và có lúc.
(Tứ tuyệt II)
Ta nhìn mặt trời,
Tưởng là mặt trăng.
Mặt trời chói lọi,
Sao mây mờ giăng?
Và ta tự hỏi
Làm được gì chăng?
(Ngày)
Việc nghiện rượu của ông xét cho cùng hẳn cũng là một cách tìm quên. Ông trở nên thoải mái trong sự lơ mơ của người say và biết là rượu tàn phá cơ thể đấy nhưng vẫn chấp nhận như một sự tự hủy hoại chính mình. Đến nỗi có hôm dựa vào mối thân tình, tôi đã gắt với ông ở ngay tại nhà ông, thì con trai ông là Vĩ ghé tai nói nhỏ với tôi: “Chú ơi, để cho bố cháu say như thế cũng là một chút hạnh phúc của bố cháu”.
Nếu nhìn ở khía cạnh tích cực, thì chính sự lãnh đạm với chức vị cũng chứng tỏ con người Hoàng Trung Thông không kham nổi lợi lộc và quyền hành. Về phương diện này, ông là một tấm gương thuộc loại trong sáng nhất trong hàng ngũ quan chức làng văn tính đến nay. Chỉ riêng chuyện chiếc xe Lada, đó là do ông xin được, nhưng ông đã hưởng thụ nó rất ít, và không hề ý thức về cái quyền mình được hưởng thụ. Mỗi ngày ông đi từ 70 Ngô quyền đến 20 Lý Thái tổ rồi lại từ 20 Lý Thái Tổ trở lại 70 Ngô Quyền, thế là xong. Có nhiều hôm ông không đi xe mà còn tự cuốc bộ. Chiếc xe từ đó trở thành phương tiện chung cho cả Viện, cả cho Công đoàn Viện tìm đường giao thiệp với các địa phương để cải thiện sinh hoạt cho anh chị em, trong điều kiện cả nước ăn bo bo và mỳ luộc trường kỳ. Hồi ấy tôi là Thư ký công đoàn nên không thể nào quên những lần cử người này người khác mượn xe Lada để bôn ba khắp nơi cầu may vào các dịp tết nhất. Mỗi lần kiếm được một món thực phẩm nào như gạo thịt là cả Viện tụ họp chia phần y hệt một ngày hội lớn. Còn nhớ cái Tết năm 1984, bạn Nguyễn Hữu Sơn (mới về viện được một năm) được cử về Hà Nam Ninh tìm một con lợn với giá phải chăng do một hợp tác xã nhượng lại. Lợn được bỏ lên xe Lada chở về trong sự hân hoan chờ đón của mọi người. Khi xe chở lợn về đến nơi, anh em mở cửa ra, có vài người nói to lên: “Kính chào thủ trưởng lợn. Xin mời thủ trưởng xuống để chúng em còn đi đón thủ trưởng Thông”. Thử nghĩ, với một Viện trưởng khác, hoặc những người có tiêu chuẩn xe con vào thời bấy giờ, có người nào có cách hành xử bình dân vô vụ lợi như thế? Cho nên, không phải là quá đáng nếu nói chính Hoàng Trung Thông đã tạo nên ở Viện Văn học một không khí thật sự bình đẳng và dân chủ.
Về mặt quan niệm tư tưởng, tôi cũng mang máng cảm nhận ra ở Hoàng Trung Thông thuở bấy giờ có một cái gì thỉnh thoảng lại lấp lóe lên như là sự phản tỉnh, nhưng đây là một phản tỉnh âm thầm nên không dễ thấy. Không thể phủ nhận ông là người rất tin ở các chính sách của Đảng. Khi chủ trương chọn cấp huyện làm đơn vị chiến lược về kinh tế để tạo sức bật cho nông thôn nhằm nhân rộng những cánh đồng 5 tấn do ông Lê Duẩn đưa ra được thực thi trên toàn quốc, ông lập tức về Nghệ Tĩnh xem xét tình hình. Chuyến ấy có tôi, Phong Lê, Lê Ngọc Châu cùng đi với ông. Ông đã về Quỳnh Lưu làng quê nơi mình sinh ra, nơi có ông Bí thư Nguyễn Hữu Đợi với lời tuyên bố nổi tiếng “Một mo cơm một quả cà một tấm lòng cộng sản cùng nhau xếp đặt lại giang sơn”. Ông cũng đã cùng chúng tôi đi thăm hồ Kẻ Gỗ để tìm hiểu cái hồ nhân tạo này tưới tắm cho các cánh đồng ở Cẩm Xuyên xanh tốt lên như thế nào. Cũng chính vì việc vào hồ Kẻ Gỗ khí hậu quá oi bức, do hai bên đều là núi, mà sau khi trở ra đến thị xã Hà Tĩnh thì Hoàng Trung Thông bỗng lên một cơn áp huyết đột ngột đến ngất xỉu. Bệnh viện Hà Tĩnh không có thuốc đặc hiệu nên Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh phải cho xe vào gấp đưa ông đi suốt đêm ra Vinh vào Bệnh viện Ba Lan nằm điều trị, khiến chúng tôi lo lắng chờ đợi ở Vinh đến mấy ngày.
Đối với tôi, chuyến đi ấy không có một thu hoạch nào đáng kể trong nhận thức, rằng nông thôn quả thực đã lên hương nhờ việc “hợp tỉnh” (hợp nhất các tỉnh nhỏ thành một tỉnh to) và nhờ dùng cấp huyện làm đòn bẩy cho sản xuất. Hoàng Trung Thông hình như cũng vậy. Số phận nông dân luôn làm ông đau đáu, mong họ đổi đời thực sự (Trong dịp thăm Cộng hòa dân chủ Đức, ông đã dành phần lớn thời gian để thăm thú các vùng nông thôn nước Đức, nhằm tìm hiểu lý do tạo nên sự cách biệt giữa mức sống của nông dân nước mình so với nông dân nước họ). Nhưng với việc cực đoan phá vườn tược làng quê, đưa dân lên núi lập làng mới như ông Đợi làm thì ông chỉ... lắc đầu. Mấy hôm sau ông đưa đến cho tôi xem bài thơ Về làng trong dạng bản thảo, Bài thơ mang giọng tâm tình, kể lại với vợ hình ảnh trẻ đẹp của những cô gái chăn tằm dệt lụa ở quê hương mà ông vừa gặp lại. Bài thơ như muốn ngầm nói rằng làng quê đang đẹp lên là điều ai cũng ao ước và đang đẹp lên thật. Song chính những truyền thống lâu đời của làng được nâng niu gìn giữ mới làm cho làng ngày một đẹp. Sau này tôi cứ ngẫm nghĩ, không biết ông có mượn bài thơ để nhắn nhủ ông Nguyễn Hữu Đợi một lời khuyên răn nào đó hay không.
Cũng một lần khác tôi được tháp tùng ông, là lần ông đi dự hội thảo khoa học và thăm Cộng hòa dân chủ Đức trong một tháng vào mùa đông năm 1980. Chuyến đi này có nhiều kỷ niệm đặc biệt với ông mà tôi sẽ phải viết trong một dịp nào đấy. Nhưng ở đây đang nói đến vấn đề tư tưởng, tôi chỉ lẩy ra một chuyện để chúng ta cùng suy nghĩ. Chúng tôi đến Đức, gặp hai người bạn chủ chốt ở Viện Văn học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Đức là Viện sĩ Nauman và Giáo sư Kortum đều là những người có quan hệ thân tình từ trước, riêng Giáo sư Kortum đã sang thăm Viện Văn học đúng vào dịp được chứng kiến sự kiện thống nhất đất nước nên ấn tượng đối với Việt Nam khá sâu đậm. Một hôm vợ chồng Giáo sư Kortum làm tiệc thết chúng tôi, có Viện sĩ Nauman đến dự. Chỉ có 5 người trong bữa tiệc chứ không có phiên dịch vì cả hai bên đều dùng tiếng Pháp, trong đó, tôi là người kém nhất nhưng cũng nghe tạm được vì người Đức nói tiếng Pháp hơi chậm, đủ để nghe, chứ không nhanh và nuốt lời như người Pháp. Theo lệnh Viện trưởng, tôi đã thủ sẵn hai chai “Lúa mới” để làm quà song vẫn cất trong túi chứ chưa mang ra. Đến giữa chừng bữa tiệc, ngẫu nhiên bà vợ Giáo sư Kortum lên tiếng khen rằng ở Việt Nam có thứ rượu rất, rất tuyệt (Au Việt Nam il y a un alcool très, très bon). Ông Thông liền đưa mắt cho tôi, tôi bèn bước lại nơi để túi lôi hai chai “Lúa mới” ra đưa vào bàn tiệc góp phần. Mọi người ồ lên một lượt tỏ ý vui mừng và mở luôn nút để cùng thưởng thức. Vốn là người sính rượu, ông Thông uống rất hào hứng, uống nhiều hơn cả chủ nhân bữa tiệc, vừa uống vừa bàn luận say sưa về văn học, và say lúc nào không biết. Đột nhiên trong một cơn hứng khởi bột phát, ông đưa mắt nhìn khắp mọi người một cách khác thường rồi bỗng cất tiếng hỏi: “Permettez-moi de poser une question directe: y a-t-il ce qui s’appelle le réalisme socialiste en réalité?” (Cho phép tôi hỏi thẳng: trong thực tế có cái gọi là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa hay không?). Cả hai vợ chồng vị Giáo sư và ông Viện sĩ người Đức ngơ ngác, dồn mắt nhìn vào Hoàng Trung Thông. Nhưng khi họ chưa kịp nói câu gì thì ông đã tự trả lời, giọng kéo dài của người say, cũng có một vẻ tự tin khác lạ: “Non, jamais. Il n’y a rien de si difficile à avaler” (Không, Chưa hề có. Không có một cái gì “khó nhá” đến như vậy cả). Cả hai người đàn ông reo lên, hưởng ứng lập tức: Ah! C’est juste! Avis bien judicieux! (Ô! Đúng! Ý kiến quá đúng!). Còn bà vợ ông Kortum thì không nói câu gì nhưng đôi mắt bỗng tươi tỉnh hẳn lên. Tuy nhiên, cũng chỉ đến đấy. Kể cả ông Thông nữa, ai nấy đều kịp thời dừng lại rồi chuyển sang những chủ đề khác, như chê trách việc Trung Quốc bất ngờ đánh thọc vào biên giới Việt Nam, coi là chuyện vô sỉ... Không một ai nhắc lại điều vừa bất chợt nói với nhau thêm một lời nào.

Cho đến tận khi rời nước Đức, ông Thông cũng không bao giờ nói tiếp với tôi vấn đề này. Tất nhiên, tôi biết đấy là điều ông buột ra trong một lúc say, dẫu sao hẳn cũng phải ủ kín đã từ lâu lắm, Kể từ đó, tôi mới ngày càng để ý tìm hiểu những uẩn khúc bên trong con người Hoàng Trung Thông – người Viện trưởng ân tình mà tôi bao giờ cũng quý trọng. Thú thực đến nay, như đã nói ở phần mở đầu, tôi vẫn chưa tìm ra con người thật của ông, mặc dù đã có đôi phen được chạm đến nó. Đúng như một câu thơ ông chợt hé lộ mình trong một vài năm trước khi mất: “Trăng biết đâu lòng ta lệ đầm – Mời trăng”. Có phải ông muốn nhắc nhở chúng ta, lũ người phàm tục, đừng có như mặt trăng kia, chỉ biết sáng nhờ nhờ và vô tri vô giác khi xem xét lòng người hay không?

21-4-2013
N.H.C.

SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân