Thứ Tư, 23 tháng 12, 2015

Một kỷ niệm bị vương vãi




                                             Đứa bé gái là Thương Chi ngày bé
  

Lời bạch:

Tối 28/11/2015 tình cờ gặp lại trong một tờ giấy nháp kẹp trong quyển sổ sưu tầm những bài thơ cổ,  thấy ghi loằng ngằng mấy câu lục bát , ghi trước một bài thơ cổ “Chơi động Hương Tích” của Trịnh Sâm:
Trời vừa hé sáng bước lên thuyền
Khoan mái chèo lan ghé bến tiên
Phong nguyệt thờ ơ bầu ngọc đúc
Giang san bỡ ngỡ bức tranh in
Kìa kìa quy phượng ngong kinh bối
Nọ nọ lân long lắng giáo thiền
Cảnh lạ thú mầu khôn xiết kể
Thanh kỳ đệ nhất cõi nam thiên.
Thì ra đó là một kỷ niệm cũ bị vương vãi. Lúc đó hoàn cảnh riêng của mình còn khó quá, nên chẳng “Kỷ niệm, kỷ niếc” gì. Có thể đây cũng chỉ là giây phút lặng thầm rồi tự bật ra thôi. Nay vô tình tìm được thì lưu giữ lại đây. Cũng xem như một hình thức kỷ niệm của năm nay.

Cưới em một thiếp một chàng
Cơ quan chẳng có họ hàng cũng không
Bạn bè ngơ ngác đứng trông
Người thương em, kẻ tiếc công học hành
Cưới em chỉ một mối tình
Yêu nhau mình đến với mình vậy thôi
Mười năm rồi nhỉ em ơi
Đắng cay ta vẫn ngọt bùi bên nhau…
                            
                                   1992


24/12/2015
Đỗ Đình Tuân


13 nhận xét:(Tải từ Tri Ân về)

  1. Kỷ niệm mười năm mà bây giờ đã ba mươi ba năm. Cho đến trăm năm vẫn là một mối tình sắt son, sau trước vẹn toàn. Trò xin được chúc Thầy cô mãi mãi tri âm tri kỷ đến đầu bạc răng long...
    Trả lời
  2. Cám ơn Minh Hương. Còn tùy ở duyên phận, căn quả nữa chứ. Mà duyên phận căn quả của mình chỉ có Trời, có Phật biết thôi, chứ mình biết làm sao được. Thôi thì cứ sắt son, trọn vẹn được ngày nào hay ngày ấy. Còn trăm năm ư ? Điều ấy thì chỉ dám cầu mong Trời Phật cho vậy thôi.
    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Không biết có phải em nhầm không nhưng em cảm thấy có vẻ như thầy hơi thiếu tự tin hơn trước thì phải? Mới ngày nào Thượng đế cũng phải thua cơ mà! http://chimviet.free.fr/thoviet/dodinhtuan/dodtuant_tinhyeuvathuongde.htm
      NKN
    2. Hình như bài này thày viết trước mà anh Nguyệt?
    3. Tình yêu và Thượng Đế viết năm 1979 khi bắt đầu nảy nở...còn bài lục bát này làm 1992 túc là cách nhau 13 năm. Tám câu lục bát này là nó bị vương vãi mà mãi đến tối 28/11/2015 nghĩa là sau 23 năm khi viết tình cờ thày Tuân mới nhặt lại được. Thày Tuân không nhớ rõ lắm là viết trong hoàn cảnh như thế nào nữa. nhưng câu thơ "Mười năm rồi nhỉ em ơi..." thì chắc là viết vào dịp 10 năm kỷ niệm ngày cưới thôi.
      Xóa
    4. Tình yêu và Thượng đế là bài thơ chuyển thể từ truyện cổ tích của Liên Xô (cũ). Nó phải trung thành với "ý tưởng của nhân dân". Còn bài thơ trong Kỷ niệm vương vãi" là thực tế cuộc sống cá nhân. Vả lại trước đây sống trong thời "dương thịnh âm suy" chúng ta tự tin hơn vào ý chí của con người. Còn ngày nay đang trong thời "âm thịnh dương suy" chúng ta trở về với đúng vị trí của con người hơn. Nó chỉ là một bộ phận của tự nhiên và không thể không chịu sự chi phối của tự nhiên. Và ngoài thế giới vật chất, còn có những thế giới ngoài vật chất. Nhưng cái thế giới ngoài vật chất ấy là gì thì con người chưa hiểu rõ. Con người có xu hướng quay về với những khoa học bí ẩn thời xưa, rồi tìm đến Trời Phật để tự an ủi là vì thế chăng ?
      Xóa
  3. Trò vẫn tin là cứ hiện tại sống đẹp thì có quá khứ tốt và ngày sau cũng tốt. Cái duyện và cái tình của Thầy Cô thật là hiếm ở đời. Trò cũng tin mình hiểu Thầy của mình là một Người luôn để mình kính nể và quý mến.
    Trả lời
    Trả lời
    1. Tin Phật thì được. Nhưng tin thày Tuân thì phải cảnh giác đấy. Bởi vì thày Tuân chỉ là người thôi mà. Lại là người Việt Nam nữa...Phải dùng nhiều ma quỷ gộplại mới thành được.
      Xóa
  4. Ha..ha.. Thầy tôi đang định "trốn" một bài cho "ngày kỉ niệm năm nay" bằng một bài cũ hay sao? Không, trò đang chờ (và chắc không ít người khác) đang chờ một dấu ấn "kỉ niệm năm nay".
    Đọc bài thơ viết hàng chục năm trước, cảm nhận thấy có cái xót xa của người viết. Một đám cưới không hoàn hảo. Tại sao ư? thì đấy, một đám cưới mà không có đại diện cơ quan. Cái thời mà ai cũng phải trong một tổ chức nào đó, không có sự chứng kiến của cơ quan là vướng mắc lắm. Lại còn không có họ hàng nữa thì phải nói là rất kém vui. Chỉ có những người bạn (chắc là rất thân), nhưng họ cũng "ngơ ngác đứng trông", thậm chí có cảm giác "thương hại". Nhưng vượt lên tất cả là tình yêu (yêu nhau mình đến với mình) giản dị vậy thôi. Sau 10 năm nhìn lại mà vẫn chắt lọc được "ngọt bùi" từ những "đắng cay" của cuộc đời thì đó quả là một hạnh phúc đích thực còn gì. Thế mới biết khái niệm hạnh phúc thật khó định nghĩa. Xem ở một bài khác của cô Song Thu biết rằng giờ đã 33 năm mà "hương lửa" vẫn nồng nàn thì tình yêu ấy thật đáng tụng ca. Em nhìn trong ảnh, dù rất nhỏ, nhưng đấy hình như là cơ ngơi những năm xưa. Cái cơ sở vật chất ấy cũng khác gì một "túp lều tranh" đâu. Mong "hai trái tim vàng" giờ đây không còn ở lều tranh nữa vẫn giữ mãi hương lửa nồng nàn đến cuối cuộc đời. Em xin chia sẻ niềm vui hạnh phúc của Thầy Cô.
    Trả lời
    Trả lời
    1. Bài thơ này gợi lại hình ảnh một đám cưới có một không hai xảy ra vào ngày 24/12/1982 tại trường THPT Ninh Thanh 1(Nay mang tên Quang Trung). Nhưng cchs đây 3 năm tức là vào dịp kỷ niệm 30 năm, Thày Tuân đã đưa lên mạng những đoạn ghi chép rất cụ thể về sự kiện này rồi. Năm nay nếu không may mắn mà tìm lại được một bài thơ cũ thì cũng đành "kỷ niệm chay" thôi, chứ thơ đâu mà lắm thế, năm nào cũng làm được ? Kỷ niệm 31 năm thày Tuân chỉ mandolin bài tình ca, và năm 32 lại tải bài Đường Trường phải chiều về để kỷ niệm vậy đấy thôi.
      Xóa
  5. Tiếp thơ ĐĐT:
    Cưới em có mỗi lá trầu
    Đôi cau đã héo một sâu tình buồn
    Người bảo dai,người bảo khôn
    Chỉ anh em thấy đẹp hơn vạn lần
    Nổi trôi trong cõi phong trần
    Đói no nào quản,nợ lần sá chi
    Lần hồi rau cúc rau vi
    Đắng cay anh chịu cực thì em mang
    Tinh ta đáng giá bạc vàng...
    Trả lời
  6. Đám cưới của Anh Ngôi còn có "người bảo khôn" và lại còn có cả "anh em thấy đẹp hơn vạn lần". Còn đám cưới của Tuân Thu thì không. Người ta chỉ bảo dại, bảo ngu và ngông cuồng thôi. Có lẽ tại vì chúng tôi đã quá đường hoàng và minh bạch chăng? Chàng rể đến cơ quan cô dâu giữa ban ngày. Cô dâu cũng dạy học đến tiết cuối cùng rồi mới viết đơn xin nghỉ việc. Trưa hôm đó cùng có một bữa cơm thân mật với mấy cô bạn phòng lân cận. Khoảng 1 giờ chiều hai người mới ra đi. Bạn bè vừa tiễn chân vừa dặn dò...Học trò thì tiễn ra đến tận đò Bùi rồi mới quay lại. Và chúng tôi cùng không đi đên miền hoang dã mà về ngay chính quê hương mình, nơi trước đây mình đã từng sống và công tác.
    Trả lờiXóa
  7. Cám ơn tất cả mọi người đã quan tâm đến Tuân Thu nha!
    Trả lời
 

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2015

Góp nhặt vài bức ảnh lạ

                                              1- Tinh vân trong màn đêm vũ trụ
                            2-Núi lửa ở Chile phun cột khói cao 16km(22/4/2015)
                                              3-Chuột khổng lồ trên Sao  Hỏa
                                             4- Sét ngược ở Châu Âu

22/12/2015
Đỗ Đình Tuân

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2015

Vài nhận xét về một tập thơ Đường luật định xuất bản



    
          Lời bạch: Có một tác giả nọ, cũng vào hạng có tên tuổi của một CLB to muốn xuất bản một tập thơ Đường Luật. Họ nhờ tôi cho ý kiến. Quan hệ giữa tôi và tác giả cũng là chỗ quen biết gần gũi nên không thể từ chối. Mà muốn có ý kiến để “cho” được thì phải đọc cả, đọc kỹ, phải phân tích, mổ xẻ. Sau đây là những ý kiến thành thật của tôi về tập thơ này. Vì đã từ dăm sáu năm nay tôi không tham gia sinh hoạt CLB . Và cũng từ lâu không đọc thơ của tác giả này, nay đọc lại không thấy “lên tay” mà cứ tầm tầm như thơ CLB cả thôi. Vì thế,  tuy rất muốn khen nhưng cũng đành phải chê vậy.Ngoài mục đích để cho tác giả và những người như tác giả chưa hiểu rõ lắm về  hồn cốt và logic bên trong của những câu thơ Đường có thêm tài liệu tham khảo, tự rút kinh nghiệm mà viết chắc tay hơn khi làm thơ Đường Luật, tôi chả có mục đích nào khác. Nhưng làm thơ dở, thơ nhạt, thơ chưa hay hoặc chưa chắc tay…gì thì gì cũng chỉ là một non yếu thôi chứ không phải là tội lỗi. Tôi dấu tên tập thơ và tên tác giả lý do là như vậy.

Về ưu điểm tập thơ này không còn những vi phạm về niêm, về đối cũng ít thấy gò vần ép chữ. Nhìn chung là sạch nước cản. Nhược điểm lớn nhất của tập thơ là ít bám sát chủ đề, chưa nắm vững được chức năng của các câu thơ trong thơ  Đường luật, nên cấu trúc bài thơ thường lỏng lẻo, ý tứ bị tản loãng, chủ đề không rõ, nên không để lại được ấn tượng cho người đọc.
Chẳng hạn  ngay ở bài đầu tiên: Ơn Thầy:
Đường đời thật lắm nối chông gai
Bể khổ chúng sinh lặn ngụp hoài
Phước đủ có thầy tu đắc đạo
Duyên lành đọng lại phúc như lai
Trả vay nhân quả tùy nhiều ít
Ân oán nghiệp duyên có ngắn dài
Như lý con thường xuyên tác ý
Ngưỡng mong sáng sủa hướng tương lai.
Với một cái tựa đề là ƠN THÀY thì hướng khai thác tự nhiên phải nói đến công lao của một ông thày cụ thể nào đó trong một lĩnh vực cụ thế nào đó. Công lao ấy đã giúp cho đời, hoặc cho mình được điều gì mà mọi người hoặc bản thân mình còn mãi ghi ơn ?
Nhưng ở hai câu đề lại nêu ra vấn đề khác chứ không phải là “Ơn thày”. Đó là cuộc sống đau khổ trầm luân trong bể khổ của chúng sinh. Đến lượt hai câu thực đáng lẽ phải nói cụ thể cái “ơn của thày” là những gì, thì hai câu thơ ấy lại đi bình luận về sự may mắn, nhờ có “phước đủ” “duyên lành” mà tu hành đắc đạo, của một “thầy” rất chung chung chẳng biết rõ là ai  ? Đến hai câu luận cũng vậy, đáng lẽ phải bình luận đánh giá về cái “Ơn thày”. Thì câu thơ lại nêu ra một lý thuyết rất chung chung của nhà Phật Đó là thuyết nhân quả:
Trả vay nhân quả tùy nhiều ít
Ân oán nghiệp duyên có ngắn dài..
Đến hai câu kết thì tác giả cũng chạy làng luôn cả cái ơn thày. Tác giả sẽ theo những lý thuyết của nhà Phật để mong tìm một tương lai sáng sủa:
Như lý con thường xuyên tác ý
Ngưỡng mong sáng sủa hướng tương lai.
Nói tóm lại là giữa tựa đề với bài thơ, và giữa những câu thơ trong bài với nhau chẳng có gì là gắn bó tự nhiên cả. Đó là những câu thơ đứng cạnh nhau rất tùy tiện. Bài thơ thành đầu Ngô mình Sở chả nói lên được điều cần nói. Vì người viết chưa nói được điều mình muốn nói thì người đọc cũng đành phải “bó tay chấm com” vậy.
Trong thơ Đương Luật cũng còn một lốí kết cấu khá phổ biến nữa là “Tiền giải-hậu giải”. Trong lối kết cấu này bài thơ thường chia ra thành hai phần: 4 câu đầu gọi là phần “Tiền giải” thường là tả cảnh, 4 câu sau gọi là “Hậu giải” thường bộc lộ tâm trạng của nhà thơ. Chẳng hạn như như bài Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan:
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân ngoảnh lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Ở bài này,trên đại thể ta có thể xem 4 câu đầu là cảnh Đèo Ngang, còn 4 câu sau là tâm trạng tác giả. Nhưng cấu trúc của bài thơ vẫn rất tự nhiên và chặt chẽ. Các câu thơ vẫn gắn bó với nhau để tạo ra một bức tranh tổng thể trong một khoảnh khắc nhất định, rất cụ thể của Đèo Ngang, trước con mắt của tác giả. Ở đây 4 chữ đầu câu 1 “Bước tới Đèo Ngang”có thể xem là thay cho những câu Đề. Từ 3 chữ cuối câu đầu đến hết câu 4 làm chức phận của hai câu thực. Hai câu 5 và 6  có thể xem là hai câu luận “ Phong cảnh đẹp vậy nhưng sao lại gợi thương gợi nhớ thế, ta không sao cầm lòng được”. Hai câu cuối vẫn làm nhiệm vụ gói bức tranh lại bằng một cái nhìn toàn cảnh khi bước tới đỉnh đèo “Dừng chân ngoảnh lại trời non nước” thật là bao la và bát ngát mông lung… Trước toàn cảnh bao la bát ngát ấy tác giả càng cảm thấy mình thêm cô đơn hiu quạnh. Câu cuối bài thơ cũng là câu thơ gói lại phần tâm trạng.
Khi làm thơ Đường luật ta có thể theo lối kết cấu “Đề - Thực - Luận - Kết”. Cũng có thể theo lối “Tiền giải – Hậu giải” hoặc sáng tạo ra một kiểu kết cấu nào khác hoàn toàn mới mẻ…Nhưng dù thế nào thì những câu thơ vẫn cứ phải gắn bó với nhau một cách tự nhiên. Và mỗi chữ, mỗi câu đều phải chung vai gánh vác một phần trách nhiệm trong việc chuyển tải một chủ đề nhất định, một thông điệp nhất định vào tâm trí người đọc.
Ngay cả ở những bài kha khá trong tập, thì cấu trúc vẫn cứ  lỏng lẻo, chưa thật là ăn khớp với nhau. Chẳng hạn như bài Mảnh đời cơ nhỡ:
Cháu bê chồng báo đẫm hơi sương
Dấn bước chân đo khắp phố phường
Mời chú xem đây tin thế giới
Mong cô đọc đó chuyện đời thường
Vai gầy phiêu bạt bao hè phố
Áo mỏng lang thang mấy đoạn đường.
Miêu tả như thế này thì làm sao rõ ra được cái sự “cơ nhỡ” của em bé ? Lẽ ra nó phải có hai câu đề làm nhiệm vụ giới thiệu hoàn cảnh của em bé, do bị bỏ rơi hay mồ côi cha mẹ mà phải tự kiếm sống bằng nghề bán báo này. Và đáng lẽ hai câu 5 và 6 phải để ở vị trí hai câu thực thì tình cảnh “cơ nhỡ” mới rõ ra được. Rất tiếc là ở hai câu thực trong bài này lại bị để ngồi nhầm chỗ. Còn vị trí của nó thì lại bị hai câu thơ chả có gì gọi là “cơ nhỡ”chen vào. Câu 3 và câu 4 của bài thơ này chỉ miêu tả một em bé bán báo rất bình thường, không có gì là “cơ nhõ” cả:
Mời chú xem đây tin thế giới
Mong cô đọc đó chuyện đời thường.
Mà hai câu thơ này thì chả có gì là hay ho. Nó chỉ làm được mỗi nhiệm vụ là tranh mất chỗ của hai câu thực đáng ra phải có “Vai gầy phiêu bạt bao hè phố; Áo mỏng lang thang mấy đoạn đường”
Đến hai câu kết:
Thăm thẳm biển khơi trong ánh mắt
Mong đời ban phát chút yêu thương
Thì em bé bán báo lại giống hệt như một em bé ăn xin rất tội nghiệp. Thực ra nếu biết cấu trúc bài thơ thì 4 câu thơ cuối bài này có thể trở thành những câu thơ rất hay. Nhưng vì đặt không đúng chỗ trong một cấu trúc lỏng lẻo nên hiệu quả của nó chẳng còn là mấy…
 Những bài có luận đề xã hội thì quá xu thời. Chẳng hạn như bài Di chúc Bác Hồ sau đây:
Di chúc thiêng liêng tỏa sáng ngời
Việt Nam đổi mới khắp nơi nơi
Chiến tranh tăm tối đâu còn nữa
Nghèo khó khổ đau đã hết rồi
Xã hội phồn vinh ươm lộc biếc
Gia đình hạnh phúc nẩy chồi tươi
Vinh quang có Đảng trao lời Bác
Nước mạnh dân giầu sống thành thơi.
Đúng là so với thời chiến tranh và thời bao cấp, thì đời sống của đại bộ phận nhân dân đã được cải thiện một bước đáng kể. Tuy nhiên sau 40 năm chiến tranh chấm dứt và 30 năm đổi mới, khoảng thời gian ấy cũng không còn là ít nữa. Với nhiều nước Châu Á khác thì đã đủ để họ “hóa rồng”. Nhưng ở Việt Nam ta tình hình ngược lại. So với nhiều nước lân bang kinh tế xã hội  nước ta ngày càng tụt hậu. Hiệu quả đầu tư thấp, năng suất lao động và sức cạnh tranh…đều kém. Các nguy cơ và tệ nạn càng ngày càng lộ rõ: tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, môi trường sống bị ô nhiễm trầm trọng, tham nhũng hối lộ tràn lan, khoảng cách giầu nghèo nới rộng, bất công xã hội gia tăng…văn hóa giáo dục và đạo đức xã hội đều xuống cấp, rồi nguy cơ lệ thuộc nước ngoài, mất dần biển đảo.v…v…Vì thế mà lòng người cũng nhiều bất an, trăn trở…Hiện thực ấy với những chúng sinh đang phải “ngụp lặn hoài” làm sao mà chẳng biết. Ấy vậy nhưng khi làm thơ thì lại bỏ qua hết. Lại toàn dùng những từ ngữ tuyệt vời nhất để ngợi ca. Nào là “Xã hội phồn vinh”, “Gia đình hạnh phúc”, “nước mạnh dân giầu”, “sống thảnh thơi” …? Không có cách nào hiểu khác hơn đây chỉ là những câu thơ dối lòng, xu thời, nịnh đời, nịnh Đảng. Bằng chứng là, ở một nơi khác, cũng ngay trong tập thơ này, tác giả có một bài Cầu mưa. Nội dung đại khái của bài thơ ấy là cầu mong Thượng Đế hãy cho hạ giới một trận mưa có phép mầu để quét sạch bọn tham quan ở dưới này đi…?
Bên cạnh nhiều bài thơ còn bất cập như thế, tập thơ vẫn rải rác những câu thơ hay, thậm chỉ cả những bài thơ thật hay, thật đẹp đến không ngờ. Chẳng hạn như bài Gót độc hành dưới đây:
Thấp thoáng kìa ai gót độc hành
Bồng bềnh suối tóc thoảng hương chanh
Đào vừa e ấp thua làn thắm
Liễu đã thẹn thùng kém nét thanh
Đường rộng thênh thang làn gió mát
Trời quang bát ngát ánh trăng lành
Tứ thơ bắt gặp hồn nhiên quá
Thấp thoáng kìa ai gót độc hành.
Thực ra thì ở bài thơ này tác giả vẫn làm theo cái tạng của mình, không Đề - Thực – Luận – Kết gì hết. Nhưng bức tranh mà bài thơ vẽ ra lại rất tự nhiên, sinh động và đẹp đến mê hồn. Hình như đây là một cô gái đang đi bộ thể dục buổi sớm thì phải ? Nàng thoăn thoắt gót chân độc hành và buông một mái tóc thơm bay trước gió. Chỉ vài nét phác thảo vậy thôi mà “người đẹp” đã hiện ra làm ngơ ngác cả đường cây hoa cỏ, nhất là nó làm ngơ ngác những cặp mắt tình cờ chợt thấy:
Tứ thơ bắt gặp hồn nhiên quá
Thấp thoáng kìa ai gót độc hành.
Câu thơ đúng là một tiếng kêu sửng sốt, sửng sốt trước một vẻ đẹp không ngờ. Ở đây dường như tất cả các yếu tố ngôn ngữ, hình ảnh, vần điệu…đến cả cái thể thơ thủ vĩ ngâm đều đã kết hợp với nhau một cách  hài hòa để cùng tôn vinh “người đẹp”. Có lẽ cũng nhờ thế mà “người đẹp” đã gây cảm hứng và để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc chăng ?
Đọc xong tập thơ này tự nhiên tôi nảy ra một câu tự hỏi mình: Tại sao lại có tình trạng có những người đã từng viết được những bài thơ rất hay như thế lại vẫn cứ viết rất nhiều những bài thơ quá bình thường và nhạt nhẽo ? Có  lẽ  là vì cái công việc làm thơ không thể “theo đàn” được. Lối chơi thơ xướng họa tràn lan, một người xướng , bốn năm chục người họa, rất dễ tạo ra kiểu “làm thơ theo đàn” này. Bởi vì tất cả đều nương theo cùng một vần, nói cùng về một đề tài,  làm theo cùng một thể loại…thì tất yêu dẫn đến tình trạng ra đời cùng một loại sản phẩm thơ trứng gà trứng vịt, anh em cùng nhà của một cặp vợ chồng nghèo túng nhưng mắn đẻ ?

                                                       20/12/2015
                                                     Đỗ Đình Tuân

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2015

Lại tải về để khoe





                             
*
Tám Tàng Bài này em đọc ở blog rùi. Giờ đọc lại thấy vẫn hay.
Thú thiệt, nếu k đọc kỷ lời bình của chị, những câu thơ chị trích , chắc chắn với em chỉ đơn giản là những câu thơ mộc mạc, bình dị. Thế thui.
Nhưng qua lời chị, cái tình, cái nghĩa trong từng ý, từng câu trở nên thương lạ. Có lẽ vì thế, 1 bài thơ chỉ hay khi nó thực sự tìm đc người tri âm tri kỷ chị hén.

*
Hương Ngàn Phải nói đúng là thơ hay làm nên cảm xúc cho người giới thiệu Tám Tàng à.

*
Song thu Vu Chúc mừng hai bạn Đ. Tuân và S. Thu. Tuy chưa được đọc nhưng qua bài của HT đã thấy rất hay, rất đáng đọc!!!

*
Hương Ngàn Được đọc tập thơ MÙA QUẢ MUỘN là một may mắn đó chị Songthu Vu à.

*
Hương Ngàn Xin lỗi tác giả Đỗ Đình Tuân vè sự trích sai câu thơ " Lấy ai anh cậy anh nhờ hôm mai". Em đã sửa và nói thêm suy nghĩ của mình về câu trên: "Lấy gì nuôi được con thơ" rồi ạ.

*
Trương Quang Thứ MÙA QUẢ MUỘN thật ngọt ngào
Với bao hương vị dạt dào men say
Hương Ngàn bình phẩm thêm hay
Bao nhiêu tình nghĩa nặng đầy trong Thơ...

Chúc mừng tập thơ MÙA QUẢ MUỘN của nhà giáo, nhà văn Đỗ Đình Tuân. Cảm ơn và chúc mừng bài bình sâu sắc của Hương Ngàn về tập thơ trên.

*
PhuongTam Nguyen Cách bình thơ của con nhà văn.... Làm người đọc cứ muốn đọc đi rồi đọc lại....

Nguồn: Theo Fecebook Song Thu.
 (Ngày 19/12/2015)

20/12/2015
Đỗ Đình Tuân

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2015

Sự gắn bó của các câu thơ trong thơ Đường luật

      
   



Thơ Đường luật vốn là một thể thơ rất chặt chẽ nghiêm nhặt. Nó quy định số câu cụ thể trong từng bài: hoặc là bát cú (tám câu) hoặc là tứ tuyệt ( bốn câu). Nó còn quy định chữ nào trong câu bắt buộc phải là thanh bằng, chữ nào trong câu bắt buộc phải là thanh trắc. Cụ thể được đúc kết trong câu “Nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh” nghĩa là các chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu bắt buộc phải theo luật, còn các chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm thì có thể linh động tùy ý. Nó còn quy định nhiệm vụ cụ thể cho từng cặp câu nữa. Hai câu đầu gọi là hai câu đề phải nêu ra chủ đề của bài thơ. Hai câu ba và bốn là hai câu thực phải đi vào cụ thể hóa chủ đề ấy. Tiếp đến hai câu năm và sáu gọi là hai câu luận mới bình luận vấn đề và hai câu cuối cùng phải gói lại vấn đề.
Chẳng hạn như bài Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến thì ờ hai câu đề Nguyễn Khuyến đã giới thiệu tông thể về ông tiến sĩ giấy: “Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai; Cũng gọi ông nghè có kém ai” . Qua cách giới thiệu của Nguyễn Khuyến người đọc hiểu rằng về mặt hình thức và danh nghĩa ông Tiến sĩ giấy này chả khác gì những ông tiến sĩ thật ở ngoài đời bằng xương bằng thịt.
Đến hai câu thực Nguyễn Khuyến mới đi vào nói cụ thể thực chất của ông Tiến sĩ giây: “Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng; Nét son điểm rõ mặt văn khôi”.Vậy là cái “thân giáp bảng”, cái “mặt văn khôi” của cái ông tiến sĩ này chỉ được làm bằng giấy, được vẽ bằng son chứ không có thực chất gì là tài danh cả.
Đến hai câu luận Nguyễn Khuyến mới cầm cái ông Tiến sĩ giấy ấy lên tay mà cân nhắc đánh giá (bình luận): “Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ; Cái giá khoa danh ấy mới hời”. Cái “nhẹ”, cái “hời” là những chữ hết sức chính xác để nói lên cái giá trị rẻ bùn của ông Tiến sĩ giấy này.
Đến hai câu kết Nguyễn Khuyến cũng gói lại hình ảnh ông Tiến sĩ giấy rất chính xác và tài tình: “Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe; Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi”. Đọc xong bài thơ ai cũng nhìn thấy hình ảnh một ông Tiến sĩ giấy thường được bán vào dịp tết Trung thu làm đồ chơi cho con trẻ, lại vừa hiểu ngay được ngầm ý của tác giả muốn mượn hình ảnh của ông Tiến sĩ giấy để chửi thẳng thừng, chửi vỗ mặt vào những ông Tiến sĩ rởm bất tài, vô dụng mua danh bằng tiền thời bấy giờ. Có điều là Nguyễn Khuyến không thể ngờ sau ông hàng trăm năm, vấn đề ông nêu ra trong bài Tiến sĩ giấy lại thành khá phổ biến trong đời sống hiện tại…?
Chặt chẽ nghiêm nhặt như vậy nhưng vẫn tự nhiên sinh động cụ thể chính xác như nó vốn có trong đời thực. Nhưng để có được những câu thơ tự nhiên và gắn bó với nhau như thế góp tạo ra một bức tranh tổng thể lại không dễ. Nhiều khi còn phải có cơ duyên mới tìm gặp được. Tôi xin kể một giai thoại văn học để làm rõ việc này. Đó là câu chuyện xung quanh việc sáng tác bài thơ vô cùng  nổi tiếng Phong Kiều dạ bạc của nhà thơ Trương Kế. Lần ấy Trương Kế đi thi tiến sĩ nhưng không đậu.  Khi trở về đến bến Phong Kiều ngoài thành Cô Tô thì trời tối. Ông phải nghỉ lại ở đây. Trong lòng buồn bã tức cảnh sinh tình tự nhiên nảy ra mấy câu thơ:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô tô thành ngoại Hàn Sơn tự…
(Trăng lặn quạ kêu sương đầy trời
Gió trên sông, lửa thuyền chài với giấc ngủ buồn
Bên ngoài thành cô tô có chùa Hàn Sơn…)
Nhưng đến đây thì mạch thơ bỗng tịt không thể nghĩ ra được câu kết. Trương Kế cứ nằm trong thuyền trằn trọc mãi mà không sao tìm được một câu thơ phải có.
Cùng lúc đó nhà sư trụ trì trên chùa Hàn Sơn thấy trăng thượng huyền đang lặn phía trời tây cũng tự nhiên nảy ra hai câu thơ:
Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tự ngân câu bán tự cung…?
(Mồng ba mồng bốn trăng mờ ảo
Nửa như lưỡi câu bạc nửa như cánh cung)
Rồi cũng không sao nghĩ tiếp được hai câu nữa. Nhà sư đành vào chùa khép cửa đi nằm. Nằm vậy thôi chứ đàu óc vẫn suy nghĩ tiếp về bài thơ dang dở. Bỗng chú tiểu lên gõ cửa xin được gặp để nhờ một việc. Thì ra chú tiểu cũng vừa nghĩ ra hai câu thơ:
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thủy để bán phù không…?
(Một mặt nước hồ như ngọc phân ra làm hai đoạn
Một nửa chìm dưới mặt nước, một nửa treo ở trên trời)
Rồi cũng tắc tị không làm được mới định lên nhờ thầy gợi ý để viết tiếp.
Nghe xong hai câu thơ của chú tiểu nhà sư vô cùng mừng rỡ bởi thấy đó chính là hai câu thơ mình đang cần tìm. Thế là nhà sư và chú tiểu đã đồng tác nên một bài thơ tuyệt phẩm:
Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tự ngân câu bán tự cung
Nhất phiến ngọc hồ phân lương đoạn
Bán trầm thủy để bán phù không
Trần Trọng San dịch:
Mồng ba, mồng bốn, trăng mờ
Nửa dường móc bạc nửa như cung trời
Một bình ngọc trắng chia hai
Nửa chìm đáy nước nửa cài từng không.
Lúc đó đã vào khoảng giữa đêm, nhà sư cao hứng bèn sai chú tiểu cho
gióng một hồi chuông ngoại lệ để cám ơn Trời Phật đã ngầm xui khiến để hai thày trò ông cùng hoàn thành một bài thơ. Không ngờ chính cái hồi chuông ngoại lệ vào lúc nửa đêm ấy lại vọng đến thuyền của Trương Kế còn đang thao thức với bài thơ chưa hoàn thành. Nghe hồi chuông ấy thì Trương Kế đọc ngay ra câu kết: “Dạ bán chung thanh đáo khách thuyến” (Nửa đêm tiếng chuông vọng đến khách thuyền)
Toàn văn bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương kế hoàn thành như sau:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Bài thơ này có nhiều người dịch, nhưng tôi thích nhất là bản dịch của Nguyễn Hàm Ninh dưới đây: *
Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều
Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

* Bản này nhiều người vẫn nhầm lẫn với bản của Tản Đà như sau:
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Gần đây phong trào sáng tác thơ Đường luật rất rầm rộ. Tín đồ của thể thơ này ngày càng đông vì những người làm thơ Đường dường như đang được xem trọng hơn trong các CLB. Ngoài những yêu cầu cơ bản của thể loại được hình thành từ thời Đường, còn thấy thêm đủ loại kiểu cách và quy định chặt chẽ thêm nhiều. Theo đó thì nhiều bài thơ thuộc hàng kinh điển, mẫu mực của thơ Đường luật của người xưa cũng đều vi phạm cả. Nhưng trong thực tế sáng tác họ lại viết rất bừa bạt, phần lớn là bất cập, rất thiếu tự nhiên gắn bó và trong sáng.


15/12/2015
Đỗ Đình Tuân

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2015

THỬ LÀM THƠ XẾP CHỮ



                                     
Lời bạch: Do tò mò mà tôi đã tìm hiểu lối thơ xếp chữ, nay lại tò mò thử làm một bài xem sao. Kết quả là cũng ra được một bài thơ có thể đọc được đủ 64 kiểu trong đó 32 bài bát cú Đường luật và 32 bài ngũ ngôn bát cú. Cố nhiên ở những kiểu đọc ngược cũng có những chỗ tỏ ra hơi gượng thiếu tự nhiên. Nhưng đó là điều rất khó tránh khỏi với lối thơ này. Dưới đây tôi chỉ trình bày 4 kiểu đọc cơ sở



     VUI TẾT


Bài 1:
Đọc xuôi theo các cặp gốc


Tươi sắc hoa khai mừng tết đến
Tới say lão rượu tiễn năm chầy
Vui vui bé nhận tiền mừng tuổi
Rói rói  bà trầu miệng đỏ cay
Phơi thắm áo khăn mầu mới đẹp
Vợi cao trai gái tít đu bay
Đòi thơ bút viết câu vần gượng
Đối cặp tay vung chữ nét gầy

Bài 2:
Độc ngược lại bài 1


Gày nét chữ vung tay cặp đối
Gượng vần câu viết bút thơ đòi
Bay đu tít gái trai cao vợi
Đẹp mới mầu khăn áo thắm phơi
Cay đỏ miệng trầu bà rói rói
Tuổi mừng tiền nhận bé vui vui
Chầy năm tiễn rượu lão say tới
Đến tết mừng  khai hoa sắc tươi

Bài 3:
Đọc xuôi theo các cặp mới ghép


Tươi sắc hoa khai mừng tết đến
Vợi cao trai gái tít đu bay
Vui vui bé nhận tiền mừng tuổi
Đối cặp tay vung chữ nét gầy
Phơi thắm áo khăn mầu mới đẹp
Tới say lão rượu tiễn năm chầy
Đòi thơ bút viết câu vần gượng
Rói rói  bà trầu miệng đỏ cay

Bài 4
Độc ngược lại với bài 3

Cay đỏ miệng trầu bà rói rói
Gượng vần câu viết bút thơ đòi
Chầy năm tiễn rượu lão say tới
Đẹp mới mầu khăn áo thắm phơi
Gầy nét chữ vung tay cặp đối
Tuổi mừng tiền nhận bé vui vui
Bay đu tít gái trai cao vợi
Đến tết mừng khai hoa sắc tươi.

10/12/2015
Đỗ Đình Tuân 

SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân