Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

Dịch Bắc hành tạp lục: Bài 113






Bài 113

An Huy đạo trung

安徽道中
An Huy đạo trung
啼鴉啞啞亂凌晨,
Đề nha á á loạn lăng thần,
徐北徐南曉色分。
Từ bắc Từ nam hiểu sắc phân
一帶雪田青者麥,
Nhất đới tuyết điền thanh giả mạch,
四山松樹白為雲。
Tứ sơn tùng thụ bạch vi vân
悠悠鄉國八千里,
Du du hương quốc bát thiên lý,
碌碌功名一片塵。
Lục lục công danh nhất phiến trần.
共指梅花報消息,
Cộng chỉ mai hoa báo tiêu tức,
春何曾到異鄉人。
Xuân hà tằng đáo dị hương nhân.

Dịch nghĩa: Trên đường An Huy
Tiếng quạ kêu quác quác làm xáo trộn buổi hừng đông,
Ánh sáng ban mai phân biệt hai vùng nam bắc Từ Châu,
Một dải ruộng tuyết phủ, xanh là lúa mạch,
Bốn phía núi tùng đầy, trắng là mây,
Quê hương mờ mịt, cách xa tám nghìn dặm
Lặn lội theo đuổi công danh, thân một áng bụi đời,
Cùng trỏ hoa mai báo tin tức,
Nhưng xuân có đến bao giờ với kẻ tha hương.
          

Dịch  thơ: Trên đường An Huy



Quác quác quạ kêu lúc rạng ngày

Từ nam Từ bắc rõ ra ngay

Cánh đồng tuyết phủ xanh xanh mạch

Bốn mặt đồi thông trắng trắng mây

Mờ mịt quê hương nghìn dặm cách

Long đong sự nghiệp tấm thân này

Hoa mai cùng trò dò tin tức

Xuân có khi nào đến xứ đây ?

                              Đỗ Đình Tuân

                                (dịch thơ)


Chú thích:
*An Huy: trên đường về nước, Nguyễn Du đi qua tỉnh An Huy vào đầu tháng 11 năm Quí Dậu (1813).

29/7/2014
Đỗ Đình Tuân

Dịch Bắc hành tạp lục: Bài 112






Bài 112

Từ Châu đê thượng vọng

徐州堤上望
Từ Châu đê thượng vọng
一河南北古爭衡
Nhất hà nam bắc cổ tranh hành
河上徐州舊有名
Hà thượng Từ Châu cựu hữu danh
戲馬舊臺秋草遍
Hí mã cựu đài 1 thu thảo biến
斷蛇大澤暮雲平
Đoạn xà đại trạch 2 mộ vân bình
一城人物窩中蟻
Nhất thành nhân vật oa trung nghĩ
四路舟車水上萍
Tứ lộ chu xa thủy thượng bình
悵望紅塵渺無際
Trướng vọng hồng trần diểu vô tế
不知日日此中行
Bất tri nhật nhật thử trung hành

Dịch nghĩa: Đứng trên đê Từ Châu nhìn ra
Một sông chia nam bắc, xưa tranh giành
Phía trên sông là đất Từ Châu nổi tiếng thời trước
Đài đua ngựa cũ, cỏ thu mọc tràn
Đầm lớn "chém rắn" ngập mây chiều
Người vật trong thành như kiến trong tổ
Thuyền xe bốn ngả như bèo nổi trên nước
Buồn trông bụi hồng bay mù không bờ bến
Không biết rằng ngày ngày đi lại trong đó

Dịch thơ: Đứng trên đê Từ Châu nhìn ra



Tranh giành nam bắc một dòng thôi

Đất cũ Từ Châu tiếng một thời

Đua ngựa đài xưa thu cỏ mọc

Đầm to chém rắn chiều mây phơi

Trong thành người vật kiến trong tổ

Bốn ngả thuyền xe bèo nước trôi

Bụi đỏ buồn trông xa tít mắt

Biết chăng bữa bữa ngược cùng xuôi

                                    Đỗ Đình Tuân

                                       (dịch thơ)

Chú thích:
*Từ Châu: Từ Châu là một trong chín châu 九州 nhà Hạ, nay thuộc tỉnh Giang Tô 江蘇.
  1. Đài đua ngựa, tại huyện Đồng Sơn. Thời nhà Tấn, ông Lưu Du thường họp bạn ngâm vịnh ở đó.
  2. Đầm chém rắn. Theo tích xưa, Hán Cao Tổ 漢高祖 thuở hàn vi đã có lần chặt đứt một con rắn ở cái đầm lớn nơi đây.

29/7/2014
Đỗ Đình Tuân

Dịch Bắc hành tạp lục: Bài 111






Bài 111

Nhị Sơ cố lý

二疏故里
Nhị Sơ cố lý
浮世滔滔死殉名
Phù thế thao thao tử tuẫn danh
回頭誰肯念吾生
Hồi đầu thùy khẳng niệm ngô sinh
官從一致身能保
Quan tòng nhất trí thân năng bảo
事隔千年石未傾
Sự cách thiên niên thạch vị khuynh
春社空留親故會
Xuân xã 1 không lưu thân cố hội
薄田無復子孫耕
Bạc điền vô phục tử tôn canh
可憐垂老蕭賢傅
Khả liên thùy lão Tiêu Hiền Phó 2
徒得人間歎不平
Đồ đắc nhân gian thán bất bình

Dịch nghĩa: Làng cũ của hai ông họ Sơ
Cuộc đời trôi nổi, bao người chết vì danh
Mấy ai chịu quay đầu suy ngẫm đời mình
Đồng lòng từ quan, giữ lấy được thân
Việc cách đây nghìn năm mà bia đá chưa đổ
Ngày hội xuân còn không người cũ họp mặt
Ruộng (vua cho) coi thường không để con cháu cày cấy
Đáng thương Tiêu Hiền Phó (làm quan) đến già (bị hạ ngục phải tự tử)
Để được người đời than cho nỗi bất bình

Dịch thơ: Làng cũ của hai ông họ Sơ



Trôi nổi cuộc đời chết tại danh

Mấy ai ngoái lại ngẫm cho mình

Một lòng treo mũ toàn thân sống

Tên tuổi đề bia bỏ hiếu danh

Xuân hội còn đâu người họp mặt

Ruộng vua chẳng để cháu con canh

Thương Tiêu Hiền Phó liều trong ngục

Để được đời than nỗi bất bình.

                                    Đỗ Đình Tuân

                                      (dịch thơ)

Chú thích:
*Nhị Sơ: đời Hán Tuyên Đế 漢宣帝 có hai người họ Sơ, chú là Sơ Quảng làm Thái Phó và cháu là Sơ Thụ làm Thiếu Phó, cùng cáo quan một lúc. Người đời khen tấm lòng cao thượng, không ham danh vị. Khi ra về, vua ban nhiều của cải ruộng đất, hai ông chia cho bạn bè, không để lại cho con cháu.
1. Ngày mậu xuân 戊春, sau ngày lập xuân 立春 năm ngày.
2. Chỉ Tiêu Vọng Chi. Làm quan đến chức Thái Phó đời Hán Tuyên Đế 漢宣帝. Sau bị hoạn quan đánh lừa, bị hạ ngục, phải tự tử.

29/7/2014
Đỗ Đình Tuân

Nhà trong ngõ






 
Trong ngõ đường đi ngóc ngách
Quẹo qua quẹo lại ngoằn ngoèo
Nhà nhà chen nhau sát vách
Mặt tiền không thấy biển treo.

Thời cổ là rừng là bãi
Trước đây đồng lúa, đình làng...
Bây giờ thành khu ngõ phố
Trong nhà cũng tối như hang.

29/7/2014
Đỗ Đình Tuân

Dịch Bắc hành tạp lục: Bài 110






Bài 110

Từ Châu đạo trung

徐州道中
Từ Châu đạo trung
桑乾南下白雲多
Tang Can 1 nam hạ bạch vân đa,
水遠山長瞥眼過
Thuỷ viễn sơn trường miết nhãn qua 2.
萬里利名驅白髮
Vạn lý lợi danh khu bạch phát,
一天風雪渡黃河
Nhất thiên phong tuyết độ Hoàng Hà.
每憐故態惟狂在
Mỗi liên cố thái duy cuồng tại,
欲覓新歡奈老何
Dục mịch tân hoan nại lão hà.
攘盡苦寒三閱月
Nhương tận khổ hàn tam duyệt nguyệt,
嶺頭落得看梅花
Lĩnh đầu lạc đắc khán mai hoa

Dịch nghĩa: Trên đường Từ Châu
Sông Tang Can về nam nhiều mây trắng
Sông xa núi dài, vút mắt nhìn qua
Vì lợi danh mà tóc trắng vẫn còn rong ruổi ngoài vạn dặm
Một trời gió tuyết qua sông Hoàng Hà
Thương thay cho tánh cũ vẫn còn ngông cuồng
Muốn tìm vui mới nhưng già rồi biết làm sao
Cố chịu khổ lạnh suốt ba tháng nữa
Sẽ được ngắm hoa mai trên đỉnh núi

Dịch thơ: Trên đường Từ Châu



Tang Càn mây trắng trắng bao la

Sông rộng núi dài vút mắt xa

Danh lợi làm cho đầu trắng tóc

Một trời gió tuyết vượt Hoàng Hà

Thương thay tính cũ còn ngông dại

Muốn kiếm nguồn vui tuổi đã già

Cố chịu rét buồn ba tháng nữa

Sẽ về lên núi ngắm mai hoa.

                            Đỗ Đình Tuân

                              (dịch thơ)

Chú thích:
*Từ Châu: Từ Châu là một trong chín châu 九州 nhà Hạ, nay thuộc tỉnh Giang Tô 江蘇. Nguyễn Du trên đường về nước năm Quí Dậu (1813), qua sông Hoàng Hà 黄河, đã ghé Từ Châu.
1.Sông bắt nguồn từ tỉnh Sơn Tây 山西, chảy vào tỉnh Hà Bắc 河北.
2. Có bản chép: "bất kiến gia" (không thấy nhà).
28/7/2014
Đỗ Đình Tuân

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Dịch Bắc hành tạp lục: Bài 109






Bài 109

Liễu Hạ Huệ mộ

柳下惠墓
Liễu Hạ Huệ mộ
吳店橋通泗水波
Ngô Điếm kiều 1 thông Tứ thủy 2 ba
士師名蹟未消磨
Sĩ Sư 3 danh tích vị tiêu ma
事人直道寧三黜
Sự nhân trực đạo ninh tam truất
作聖全功在一和
Tác thánh toàn công tại nhất hòa
相對尼山長有魯
Tương đối Ni Sơn trường hữu Lỗ 4
可憐盜跖已無家
Khả liên Đạo Chích 5 dĩ vô gia
碑殘字沒埋荒草
Bi tàn tự một mai hoang thảo
天古聞風一下車
Thiên cổ văn phong nhất há xa

Dịch nghĩa: Mộ Liễu Hạ Huệ
Dưới cầu Ngô Điếm sông Tứ chảy
Tiếng tăm của bậc Sĩ sư vẫn chưa mất
Lấy đạo ngay thẳng thờ người, ba lần chịu mất chức
Nên công bậc thánh ở chữ "Hòa"
Đối mặt Ni Sơn, nước Lỗ còn mãi mãi
Thương cho Đạo Chích kẻ không nhà
Bia tàn chữ mất chôn vùi nơi cỏ hoang
Nghìn năm còn nghe tiếng, tôi xuống xe

Dịch thơ: Mộ Liễu hạ Huệ



Tứ Thủy xuôi cầu Ngô Điếm qua

Sĩ sư danh tiếng vẫn không nhòa

Ba lần mất chức vì ngay thẳng

Bậc thánh nên công bởi biết “Hòa”

Đối mặt Ni Sơn còn mãi Lỗ

Thương em Đạo Chích kẻ không nhà

Bia tàn chữ mất xanh rì cỏ

Tên tuổi ngàn sau vẫn nhớ mà.

                               Đỗ Đình Tuân

                                 (dịch thơ)

Chú thích:
*Liễu Hạ Huệ: tức Triển Cầm 展禽, tên Hoạch 獲, tự là Quý 季, người đất Liễu Hạ 柳下, nước Lỗ 魯, thời Xuân Thu 春秋. Làm Sĩ Sư, ba lần bị truất mà không bỏ nước. Có người hỏi, ông trả lời: "Lấy đạo ngay mà thờ người thì đi đâu mà không bị ba lần truất. Nếu lấy đạo cong thì hà tất phải bỏ nước của cha mẹ". Sau khi chết, được đặt tên thụy là Huệ 惠. Mạnh Tử khen ông là bậc thánh về Hòa (Thánh chi hòa 聖之和).
1. Cầu bắc qua sông Tứ Thủy. Ở đầu cầu có mộ của Liễu Hạ Huệ.
2. Sông phát nguyên từ tỉnh Sơn Đông 山東 qua huyện Tử Vĩnh, huyện Khúc Phụ 曲阜, xưa chảy vào sông Hoài.
3. Chức quan trông coi việc hình.
4. Quê hương của Liễu Hạ Huệ. Nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông 山東.
5. Em Liễu Hạ Huệ tên Chích. Là một tay trộm cướp nổi tiếng, nên gọi là Đạo Chích.

28/7/2014
Đỗ Đình Tuân 

Chùm thơ "Ngày đầu Hà Nội"




 
1. Ngủ trưa

Đang trưa trời nắng bố con đi
Xe rộng người thưa ngả giấc khì
Xuống bến Gia Lâm càng nắng gắt
Tay sờ bỏng rát cái yên xe.

27/7/2014
Đỗ Đình Tuân

2. Chửa đi đâu

Đã hay Hà Nội đông người
Nhưng mình lại hóa lẻ đôi lạc vần
Chưa đi xa chửa tới gần
Vẫn đang thúc thủ chôn chân ở nhà.

28/7/2014
Đỗ Đình Tuân

3. Vào mạng Hồng Nga

Hôm qua vào mạng Hồng Nga
Thấy nàng buôn bán nơi xa mới về (?)
Nàng kêu nàng bận trăm bề
Nhưng nàng vẫn ở cận kề bên ta. (?)

28/7/2014
Đỗ Đình Tuân

SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân