Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Mai ơi …!






Mai ơi, xin hãy chia đau
Với bà chủ ruột đang nhàu như dưa
Khuyên bà hãy rán sớm trưa
Chăm vườn, vui chợ…cho thưa nỗi buồn !

24/2/2014
Đỗ Đình Tuân


Thơ phúc đáp của bà chủ:

 Tan buổi chợ-lúc hoàng hôn
Về nhà quạnh quẽ,nỗi buồn khó cân

Ước chi như cặp Thu-Tuân
Vẫn dí dủm
tựa tuổi xuân

Ngày nào.

Và bốn câu thơ về cây mai của bà chủ:

Đã sắp hết tháng giêng rồi

Cây mai trước cửa vẫn ngời sắc hoa

Nhìn hoa,càng héo lòng ta

         Người buồn,cảnh đẹp sao mà ngược  nhau!



 

Ngày giỗ ông năm 2014

1. Ngôi nhà cũ ở quê giữ lại nguyên trạng làm nhà thờ tiểu chi
2. Ban thờ ngày giỗ ông 24/1/Giáp Ngọ (23/2/2014)


3. Hai bảng tóm tắt Phả hệ của dòng họ Đỗ đến thế hệ thứ 7 (thế hệ ông Đỗ Đình Tuân)



4. Quang cảnh ngoài sân
5.Bà Kế năm nay 87 tuổi (sinh năm 1927)






6. Anh em con cháu họp mặt trong nhà ngày giỗ ông.









.7.Làm giỗ và ăn giỗ

23/2/2014
Đỗ Đình Tuân







Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Rau muối







Trong vườn thấy mọc cây rau muối *
Chợt nhớ ngày trâu thả bãi bồi
Cùng chúng bạn đi bòn rau muối
Luộc ăn làm một thú chơi.

Thế giới ấy nay không còn nữa
Chớp mắt thôi mình đã cuối đời
Trang lứa cũ xưa cười rúc rích
Giờ nơi đâu còn mất bao người ?

*Cây rau muối này theo gốc cây giống từ miền đất phù sa sông Hồng 
về đây mà mọc lên thôi. Vùng đất Sao Đỏ không có rau muối.


21/2/2014
Đỗ Đình Tuân


Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Nghĩ…






Phật Thánh…khuyên ta phải TÍN
Bè đảng khuyên ta phải TRUNG
Khoa học dạy ta phải biết HOÀI NGHI
TÍN ư ?
-Xấu có thể là Tốt
-Tốt có thể vẫn Xấu
TRUNG ư ?
Tự trói buộc mình
Hoặc vì niềm tin
Hoặc vì quyền lợi
Chỉ có HOÀI NGHI:
-Xấu chưa hắn đã xấu?
-Tốt chưa hẳn đã tốt ?
Nghĩ thêm đi
Tiếp tục kiếm tìm…?

18/2/2014
Đỗ Đình Tuân

Chí Linh phong vật chí (38)


                THƠ BÁT CÚ VÀ NGŨ NGÔN VỀ CHÍ LINH
                                        (Kỳ cuối cùng và hết)

Dịch âm:
Tổng quát thực ngoa giai khả lục
Hướng tòng hiếu thượng đàm dân tục
Thiên ư Chi Ngại sính hoàn bồ
Nguyên thị dân cư giáp sơn cốc
Tái văn phụ vệ cấu thù đa
Diệc hệ Tây thờikhuy giáo dục
Nhất tri kim phụng thái tượng kha
Chính bình tịnh hạ Hoàng Vương phúc
Đa tàng cần kiệm thiểu kiêu xa
Thời thuyết nông tang hy tụng ngục.
Dịch nghĩa:
Tổng quát các chuyện đúng hay sai đều ghi chép cả
Theo sự ưa thích để kể phong tục của nhân dân
Riêng làng Chi Ngại sinh về cắt cỏ tranh
Nguyên là dân cư giáp với núi hang
Lại nghe làng Phụ Vệ hay gây oán thù nhau
Cũng là do thời Tây Sơn thiếu mặt giáo dục
Buổi thịnh trị nay gặp vận thái hòa
Chính bình đều phúc trạch của vua chúa
Nhiều là theo cần kiệm ít xa hoa
Thường bàn việc nông tang và ít kiện tụng.
Dịch thơ:
Theo truyện cũ đúng sai ghi cả
Phong tục dân từng đã thói quen
Chi Ngại tranh cắt giầu tiền
Vì nhân dân vốn ở miền núi đây
Làng Phụ Vệ hay gây thù oán
Hồi Tây Sơn nổi loạn gây ra
Tới nay gặp buổi thái hòa
Là nhờ đức chính vua ta công bằng
Bỏ xa xỉ theo đàng cần kiệm
Chăm cấy cầy ít kiện cáo nhau.

Tổng Chi Ngại có 9 xã đều ở nơi chân núi tiếp giáp huyện Phượng Nhỡn, năm xưa bọn hung đồ thường tập hợp làm giặc, nay đã được yên ổn. Tục truyền xã Phụ Vệ khi trước hay gây sự oán thù, nay không còn thói ấy nữa.đời Tây Sơn xã này hay có án mạng, nay cũng không còn nữa.
Bài dưới đây tổng luận về thổ sản huyện Chí Linh :
Dịch âm :
Hạt dân khí tập lược tương đồng
Tái bả thổ nghi trần tiều mục
Giang khê triều thủy thiện ngư nhiếu
Sơn cước xuân thu trà quả túc
Mai trúc ma loát thảo mãng gian
Lộc hồ lữ tụ quân sơn lộc
Đại Bát hương mao địa sản đa (1)
Phao Sơn du quả thiên nhiên thục
Mộ xuân giai phẩm Quảng Tân phi
Lư linh tầm thường thu hướng xúc
Dã vị thiên đa ký bất thăng
Cánh tương kỹ nghệ đa ngôn vận (2)
Dịch nghĩa :
Tập tục nhân dân trong huyện đại khái giống nhau
Lại đem thổ nghi trình bày một mục nhỏ
Sông lạch nước thủy triều lên xuống sẵn giống lươn
Chân núi mùa xuân mùa thu có đủ chè xanh và các thứ quả
Măng trúc măng mai ở nơi rậm rạp
Con hươu con cáo từng đàn ở chốn núi rậm
Làng Đại Bát là nơi sinh ra cáy sả
Núi Phao Sơn mọc nhiều thứ quả có dầu
Con phi ở làng Quảng Tân là sản vật quý ở cuối mùa xuân
Cá vược tầm thường là sản phẩm đông hứng về mùa thu
Dã vịcòn nhiều không thể kể kể xiết
Lại đem kỹ nghệ làm bài ca nối tiếp.
Dịch thơ ;
Dân trong huyện cùng chung phong tục
Còn thổ nghi riêng mục kể bày
Khe sông lươn cá nhiều thay
Chân non chè đá quả cây đủ đầy
Trong rừng rậm măng mai măng trúc
Dưới chân non đàn lộc đàn hồ (3)
Sả làng Đại Bát củ to
Phao Sơn dầu dọc thơm tho vô ngần
Phi Quảng Tân cuối xuân vật quý
Cá vược này thú vị mùa thu
Xiết bao dã vị đặc thù (4)
Tiếp sau kỹ nghệ vần thơ chép bầy (5)

Về thổ nghi các xã trong huyện ở ven sông sẵn có như làng Chí Linh, làng Đáp Khê thường có loài lươn trắng khá lớn; các làng Mật Sơn, Lạc Đạo, Ninh Bảo thường sinh cây chè với mít dứa. Làng Đại Bát có loài sả củ to mùi thơm. Làng Phao Sơn thường có quả nấu dầu gọi là quả dọc, người làng thu hái nấu dầu. Làng Quảng Tân ở sông sinh ra loại trai nhỏ gọi là con Phi, tháng 3 âm lịch thường có lấy về luộc ăn vị rất thanh thú. Đời trước thường dùng tiến vua. Ngoài ra như các loài đại hải, sò cáy…còn các vật tầm thường nhỏ khác không kể xiết được.
Trên đây là sự tích huyện Chí Linh.


Ghi chú
(1)     chép thiếu mất một chữ
(2)     chữ “vận” phải là chữ “tục” mới đúng, vì chữ tục đúng vần thơ và có nghĩa là “nối tiếp”.
(3)     Đàn lộc, đàn hồ (đàn hươu, đàn cáo), những con vật này ở dưới chân núi
(4)     Dã vị đặc thù; thức ăn ở đồng quê có vị ngon riêng biệt
(5)     Theo ý câu văn trong bài này thì còn bài nói về kỹ nghệ trong huyện, có lẽ còn sót (lời ND)


8h52’ ngày 17/2/2014
Đỗ Đình Tuân







Thiên diễm tình


 

          Lu-i-gi - Mô-kry-na tái ngộ sau sáu chục năm.

 

Trong dịp kỷ niệm Ngày chiến thắng phát-xít 9-5-2013, tại công viên Ma-ri-in-xky ở trung tâm thủ đô Ki-ép (U-crai-na), tượng đài Thiên diễm tình đã được khánh thành. Tượng đài có nguyên mẫu một ông già người I-ta-li-a và một bà già người U-crai-na...


  
Ông là Lu-i-gi Pê-đút-tô, bà là Mô-kryna Yu-rơ-dúc. Cách đây đúng 70 năm, ở tuổi ngoài 20, chàng lính trẻ I-ta-li-a gặp nàng trong một trại tù binh ở Áo. Khi ấy, quân Đức chiếm đất của những nước gia nhập Liên Xô, bắt lao động trẻ "đi phu" sang Đức, Áo... Do Mô-kry-na đang mang thai nên cô được "làm phúc", chuyển công việc từ lao động cưỡng bức sang nhà máy tơ. Sinh con gái Na-đi-a trong trại tù binh, Mô-kry-na một mình xoay trở, vừa phải làm lụng vất vả, vừa phải chăm đứa trẻ sơ sinh và may mắn gặp được Lu-i-gi. Ngay cái nhìn đầu tiên đã bắc nhịp cầu giao cảm giữa hai thân phận, từ chỗ hoàn toàn không quen biết sẵn, hai người bắt đầu trò chuyện, không chung ngôn ngữ thì dùng cử chỉ âu yếm, rồi tay trong tay, bất chấp cảnh tù đày trong hai năm trời. Chính Lu-i-gi đã chủ động đến vỗ về an ủi hai mẹ con trong cảnh thân cô thế cô, đã bồng đã ru đứa trẻ bằng những khúc ca cổ xưa thương cảm.
Năm 1945, quân Đồng minh oanh tạc dữ dội nhà máy tơ, Lu-i-gi đã dìu mẹ con Mô-kry-na trốn thoát... Ba sinh mạng ẩn nấp ngoài cánh đồng, bới đất lấy khoai, vặt bắp ngô non độ nhật. Ngày ngày, chính người đàn ông đã kiếm ngô, khoai về nhai nhuyễn, mớm cho đứa trẻ sống qua mùa xuân.
Chiến tranh đã kéo hai thân phận vào một cặp tình nhân, ấy thế mà hòa bình lại khiến họ phải ly biệt. Hồng quân Liên Xô giải phóng nước Áo và trả lại ai về chỗ nấy: Lu-i-gi về I-tali- a, nhưng không được phép mang theo mẹ con Mô-kry-na! Khi người yêu ôm đứa con thơ nức nở lên tàu trở về U-crai-na, Lu-i-gi chỉ còn biết giữ kỹ lọn tóc của nàng mà chàng có lần lén cắt và mẩu giấy nàng ghi địa chỉ của mình, mong một ngày có vật làm tin để tìm lại người bạn đời lý tưởng. Song, suốt mấy chục năm, Lu-i-gi không có cơ hội đặt chân đến đất nước Liên Xô.
Trở về quê cũ Khơ-men-nhít-xca, nơi bị chiến tranh tàn phá tan hoang và chỉ còn đúng hai người đàn ông, Mô-kry-na cùng những người đàn bà khác lao vào làm lụng. Công việc đầu tắt mặt tối khiến cô phải gạt sang một bên mọi ý nghĩ về Lu-i-gi, không dám nuôi hy vọng sẽ có ngày người yêu tìm đến mình. Ít lâu sau, cô chuyển sang Kri-vôi Rô-gơ - một địa phương nhỏ đến nỗi không có tên trên bản đồ U-crai-na - làm việc trong một hầm mỏ và lấy chồng, sinh hạ thêm hai người con. Cách đây hai chục năm, người chồng qua đời, các con đã ra ở riêng, Mô-kry-na lại sống một mình vò võ.
Trong khi đó, ở I-ta-li-a, Lu-i-gi cũng nhiều lần gửi thư sang Liên Xô tìm kiếm Mô-kry-na mà chẳng lần nào nhận được hồi âm, nên đành lấy vợ, có được một người con trai, rồi góa vợ đã 15 năm... Lu-i-gi chìm trong nỗi ngậm ngùi số phận, chỉ biết trang trải nỗi niềm với rừng ô-liu, và, trong cơn tuyệt vọng, ông viết thư cầu may cho chương trình tìm kiếm thân nhân của truyền hình Nga. Cánh phóng viên của dự án này đã gấp rút lần tìm và sớm có kết quả: Mô-kry-na vẫn còn sống tại làng Go-nhi-ắc Đỏ thuộc vùng Đơ-nhép-prơ-pê-trốp-xky, dẫn tới cuộc phát sóng trực tiếp năm 2004, cặp tình nhân tái ngộ sau sáu chục năm trước sự chứng kiến của hơn hai triệu khán giả. Hoàn toàn rõ ràng: trải bấy nhiêu năm, ông già I-ta-li-a vẫn cứ là chàng Rô-mê-ô đang yêu, bất chấp mọi cách ngăn về không gian và tuổi tác.
Từ phòng quay truyền hình trở về, bà lão Mô-kry-na hào hứng tự tay sơn trắng lại toàn bộ ngôi nhà, dọn dẹp mọi ngóc ngách, sân sướng, mua sắm nhiều thực phẩm. Bà nói cười chạy nhảy hoạt bát như trẻ lại ba chục tuổi, ánh mắt rạng ngời hạnh phúc. Ông Lu-i-gi đều đều sang Go-nhi-ắc Đỏ thăm người yêu: đáp máy bay xuống Ki-ép, rồi lên tàu hỏa và bám xe khách, để được tự tay dọn cỏ hoang và làm mọi việc như người chồng thực thụ trong nhà bà Mô-kry-na. Tối tối, ông soạn món mì ống với pho-mát đặc sản dân tộc I-ta-li-a, cùng người yêu vừa ăn vừa ngắm hoàng hôn U-craina, xong, thể nào cũng mở nhạc khiêu vũ... Đáp lại, bà cũng mang con gái lớn Na-đi-a sang Xan Lo-ren-xô thăm ông và biết: người tình của mình nhà cửa tiện nghi, hiện là chủ tịch hội cựu chiến binh, thuộc những người có ảnh hưởng lớn nhất ở địa phương. Ông tự tay lái xe đón đưa hai mẹ con trong ánh mắt ngưỡng mộ của già trẻ gái trai, khiến bà xúc động khóc òa như một cô bé. Lần đó, dưới tán lá ô-liu, ông chính thức cầu hôn và đề nghị bà chung sống với mình tại I-ta-li-a. Nhưng bà khước từ - bà không thể rời xa con cháu, vườn tược và bao thứ gắn bó hằng ngày với mình trong suốt chặng đời gian khó. Ông không nản, khuyên bà nghĩ lại, và hẹn hằng năm, cứ vào tháng tám là sang với bà. Trong khi đó, ở U-crai-na, dân tình xao xuyến bởi câu chuyện tình Lu-i-gi - Mô-kry-na và quyết định dựng tượng họ. Theo sáng kiến của kênh truyền hình "Inter", hai nhà tạc tượng A-lếch-xan-đrơ Mo-gát-xky và Gri-go-ri Kô- chiu-cốp đã hoàn thành tượng đài Thiên diễm tình khắc họa cuộc tái ngộ cảm động sau nhiều năm ly hợp giữa bà lão người U-crai-na với ông lão người I-ta-li-a. Hai nguyên mẫu được mời đến dự lễ khánh thành tượng đài tình yêu bất diệt, song, bà Mô-kry-na đang đau ốm nên đành vắng mặt, chỉ có ông Lu-i-gi. Ông cắt băng khánh thành và run giọng phát biểu: "Từ hồi học trò, tôi đã được thầy giáo dạy rằng: Nếu như trong cuộc sống có gặp những thời buổi nặng nề thì sau đó thể nào cũng được thưởng lại. Hôm nay tôi đã được nhận phần thưởng đó".
Theo hẹn, vào tháng tám thăm người yêu. Song, ông Lu-i-gi đã không giữ được lời hứa: ngày 10-8-2013, ông đã từ giã cõi đời... Bên cạnh giường ông, còn đó hai túi mì ống với pho-mát, còn đó tấm vé bay sang Ki-ép với hộp nhẫn cưới - hình như ông vẫn không hết hy vọng rồi bà sẽ nhận lời cầu hôn của mình.
Đến khi được con cháu cho hay tin dữ, bà Mô-kry-na yêu cầu các con đưa ngay đến tượng đài Thiên diễm tình, để khóc!
Từ ngày khánh thành đến nay, tượng đài Thiên diễm tình không ngày nào ngớt du khách và các cặp tân hôn. Người ta tin: chạm tay vào cặp tình nhân già đang ôm nhau thì mình chẳng bao giờ phải xa người yêu dấu! Đó là nguyên mẫu tượng đài Thiên diễm tình ở Ki-ép.

                                                                       Đăng Bẩy
                                                               (Nhân dân cuối tuần)

17/2/2014
Đỗ Đình Tuân 
(Sưu tầm)



 

 

 




LÊN TÁM BUỒNG RỒI

  20/04/2026 Đỗ Đình Tuân