Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

GỬI BẠN "TRI MỀ"



Tôi tuổi NGỰA, ông tuổi DÊ
Cám ơn ông bạn TRI MỀ của tôi
Hôm nay bụng NGỰA khỏe rồi
Chắc nhờ phép lạ của NHỜI HỎI THĂM
Ruộng vườn đã lại siêng năng
Lại nhòm, lại uống, lại ăn như thường
11/10/2011
Đỗ Đình Tuân

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

TIẾNG CHIM RỪNG


Rừng bây giờ thì đã lùi xa
Tiếng chim núi đêm về
vẫn đôi lần lảnh lót

Khi như một tiếng than đời
Còn khổ…
Còn khổ…

Khi như một tiếng gọi đời
Nhắc nhở:
Khó khăn khắc phục!
Khó khăn khắc phục!

Cũng có lúc 
nghe sao đắng đót
Trót thì bóp…
Trót thì bóp…
Lỗi lầm gì mà gượng gạo xót xa?

Tiếng chim hót chỉ là lời gọi bạn
Dẫu như tiếng than đời
Dẫu như lời nhắc nhở
Dẫu như là
gượng gạo xót xa…

Âu chỉ là
Cảm nhận
Tự lòng ta.

11/10/2011
Đỗ Đình Tuân

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

THƠ MỪNG NGUYỆT-NÚI



(Họa bài Tin mừng gửi xóm Tri Ân của Thanh Dạ)

Công quả trông chờ đã khá lâu
Bây giờ Nguyệt-Núi có nàng dâu
Nàng dâu đã có hề mong sớm
Có cháu nội hề, có củ nâu.

10/10/2011
Đỗ Đình Tuân

KHÓ XỬ


            Trong cuộc đời có rất nhiều chuyện khó xử. Trong bất kỳ mối quan hệ nào cũng vậy. Tôi từng chơi ở rất nhiều CLB thơ của người cao tuổi. Đầu tiên thi cũng rất chân thành, xem ai cũng như bạn thân của mình. Lại thường phải làm cái công việc biên tập vì có cái mác “học văn bài bản”. Vì trách nhiệm, nhưng trước hết là vì tình thân, đôi khi tôi cũng thò bút vào sửa một vài chữ. Nhưng với không ít người, thơ họ đã là tuyệt đích rồi, sửa chữa chỉ là làm hỏng thơ họ đi thôi. Cho nên tôi thường hay bị họ chửi bằng đủ kiểu: chửi sau lưng, chửi bằng thơ nặc danh, và cả chửi vỗ mặt. Sau này tôi mới được nghe một câu thơ Bút Tre dân gian: “Chỉ được khen, không được chê / Đây là thơ thẩn văn nghê quần chùng” (Văn nghệ quần chúng).
Từ lâu, khi đọc cụ Hoài Thanh, người bình thơ phải gọi vào loại “siêu” tôi đã rất tâm đắc với quan điểm của cụ là cứ tìm cái hay mà đọc mà khen, không bận tâm gì đến những cái dở, bởi vì cái dở sẽ bị thời gian thải loại. Suốt đời cụ không làm một câu thơ nào nhưng cụ thẩm thơ và bình thơ thì thật là tuyệt diệu. Lời bình Hoài Thanh, giọng ngâm Trần Thị Tuyết  từng là một món ăn tinh thần sang trọng một thời. Sau này những người yêu cụ (và là đại bộ phân) xem cụ là người làm thơ bằng phê bình. Nghĩa là xem cụ như một nhà thơ chính cống, thậm chí còn là bậc thầy của các nhà thơ. Nhưng vì “chỉ có khen, không có chê” nên trong một bài vè lưu hành dưới dạng dân gian truyền miệng đã chê “cái cổ hay gật gù” của cụ: “Cái cổ Hoài Thanh / Răng nanh Đức Phúc”. Đức Phúc ở đây là chỉ Vũ Đức Phúc một nhà phê bình hay đi “phang” người.Cay độc nữa là còn đặt ngang với cái này của Ngọc Tú (nhà văn nữ) với cái kia của Xuân Quỳnh (nhà thơ nữ) nữa chứ. Thế mới biết giữa cuộc đời “bá nhân bá khẩu” khó xử thật.
Trong lối viết phê bình có lẽ tôi cũng ảnh hưởng quan điểm của cụ Hoài Thanh nhiều, nghĩa là cũng chọn những cái hay ra khen là chính chứ không đề cập gì đến những cái mà mình còn cho là dở hoặc chưa hay. Nhưng áp dụng cái nguyên tắc này vào các CLB tôi thấy cũng không ổn. Vì cái hay thật thì không có, đành phải khen đến những cái tàm tạm. Thôi thì cũng coi như là chọn bó đũa lấy cột cờ. Nhưng rồi những người không được khen họ cũng thấy động lòng. Rồi họ cũng phật ý và sinh sự. Nhất là từ khi  tôi chơi máy tính, ngoài việc biên tập lại còn phải kiêm cả việc đánh máy nữa. Tuổi già lẫn cẫn, không ít trường hợp đánh nhầm thơ của họ, thế là họ cứ đổ diệt cho là chữa hỏng thơ của họ.Họ lại được dịp “trị cho một mẻ” cho bõ ghét. Định học cụ Hoài Thanh nhưng tôi lại thành “cụ hoài công”. Cái đầu “người thịt” của tôi trông thì có vẻ lành lặn, nhưng cái đầu “người tinh thần” của tôi thì cũng “hầm hố” lắm. Bởi vì nó đã qua quá nhiều những đụng độ, những va chạm. Nhất là lại viết phê bình nữa nên càng có nhiều người ghét. Nhưng quen mất nết đi rồi, viết phê bình cứ thấy thuận tay hơn. Khi viết phê bình bao giờ tôi cũng nghe theo lời mách bảo của một câu danh ngôn: “Khen người ta mà khen không đúng là hại người ta. Chê người ta mà chê không đúng là tự hại mình”. Tôi thường phải cố gắng hết mình để vươn tới một sự đánh giá công bằng và khách quan. Nhưng chết nỗi những người tự biết đánh giá mình một cách khách quan lại không nhiều. Phổ biến người đời vẫn cứ “Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay”. Cho nên dù cố gắng thế nào, cứ sau một bài phê bình, bên cạnh những người hồng hào nở mũi, thể nào cũng có đôi ba người xị mặt. Đó cũng là một chuyện rất khó xử.
Bởi thế nên cũng nhiều lần tôi định bỏ nó rồi. Tôi định bỏ phê bình để sang viết văn, viết truyện. Tôi rất thích viết truyện ngắn, đã thử nhiều lần nhưng chết nỗi cứ viết xong, đọc lại lại thấy tự chán mình. Mà đã chán mình thì còn dám công bố làm sao được nữa. Năm ngoái tôi đã mời Minh Hương làm “sư phụ” để dạy tôi viết truyện ngắn. Nhưng chả hiểu vì lý do gì Minh Hương nhất định không nhận, chỉ trước sau nhận làm trò cũ thôi. Đáp lại tôi cũng cóc nhận Minh Hương là trò cũ nữa. Lý do của tôi là: Trò cũ Minh Hương của tôi là một cô gái trẻ, tuổi mười tám đôi mươi và đẹp như Kiều, bây giờ đem một bà Minh Hương già cốc đế ra đánh đổi lấy cái danh hiệu “trò cũ của thày Tuân” thì thày Tuân thiệt quá. Không chơi. Thế là tôi đành giở bài ra học lỏm vậy. Tôi tìm đọc hết truyện ngắn của Minh Hương. Tự nhiên lại thấy có khi viết truyện ngắn cũng dễ. Thế là tôi lại ngồi viết thử. Lần này thì tôi viết được một truyện tạm ưng ý . Nhưng truyện có liên quan nhiều đến câu chuyện tình của tôi, nên tôi chỉ công bố cho các bạn xa biết, còn khu vực gần thì vẫn giấu. Nhưng để chắc ăn hơn tôi phải quay lại viết ký một thời gian nữa để làm quen với việc lựa chọn và sinh động hóa các tình tiết. Đó là lý do tôi viết Lan man chuyện làng tôi. Tác phấm này tôi viết trong khoảng thời gian nửa năm. Cái cốt thì dựa vào thực tiễn của đời mình. Toàn bộ tâm lực của tôi giành vào việc lựa chọn chi tiết nào và làm sinh động những chi tiết ấy như thế nào? Nếu như sau này tôi còn đủ tâm lực và trí lực để viết truyện thì tôi chỉ phải lo ý tưởng và cái khung chuyện để lồng ý tưởng thôi. Còn về các chi tiết đắp vẽ thì sẽ không tắc nữa. Trong khi viết ký tôi cũng tham khảo những bài ký của cậu Nguyệt và đặc biệt thích Chuyện của bạn bè tôi. Tôi cóp toàn bộ cái ký ấy vừa để học cách viết của cậu ấy, vừa làm tài liệu để dạy con mình: “ Đây, hãy đọc đi, xem chú Thảo, chú Hào…các chú ấy vào đời như thế nào để mà tự lo lấy đời minh”. Đọc ký của cậu Nguyệt tôi cũng nhận ra một điều, nhìn bàng quan, phớt phát bên ngoài ta cứ ngỡ như cuộc đời phẳng lặng, nhưng nếu đi sâu vào mới thấy nhiều bão táp phong ba.
Từ khi lao vào viết nhiều, tôi thấy xem mạng và chơi blog có nhiều kích thích hơn. Tôi không mấy mặn mà với các CLB nũa. Nhất là lại có va chạm, hoặc có mầm mống của sự va chạm. Nhưng lý do chủ yếu vẫn là các CLB ấy đã không còn đáp ứng được những nhu cầu tinh thần của tôi nữa. Bây giờ thì chủ yếu tôi chơi Blog. Nghĩa là mình chỉ chơi với mình, trung thực là mình. Bản tính tôi vốn đã lòng ngay dạ thẳng (ruột ngựa mà). Sau này càng học tôi càng thấy trung thực là phẩm chất quý. Cố nhiên nếu kết hợp được cả với sự khéo léo tế nhị nữa thì hoàn hảo hơn. Nhưng vì một lẽ gì đó không hoàn hảo được thì cũng không nên thiếu trung thực. Cách đây từ hơn hai nghìn năm cụ Khổng Tử chẳng đã dạy “Tri chi vi tri chi / Bất tri vi bất tri / Thị tri dã” (Biết nói là biết / không biết nói là không biết / thế là biết vậy”. Như vậy thì trung thực còn đồng nghĩa với hiểu biết nữa. Một kẻ dù thiên kinh, vạn quyển nhưng trí trá, điêu mèo vẫn là không hiểu biết. Ngược lại một người dù trong bụng chẳng có lấy một “hột chữ” nhưng trung thực thì vẫn được xem là một con người hiểu biết. Đó là những đúc kết rất sâu xa và mãi mãi hậu thế phải “lấm mũi” mà bái phục. Thời nhân văn giai phẩm  Phùng Quán cũng có những câu thơ thật chí lý:“Dù ai chiều chuộng nâng niu / Cũng không nói yêu thành ghét / Dù ai cầm dao dọa giết / Cũng không nói ghét thành yêu”. Rất tiếc là có một thời người ta lại không dung những câu thơ trung thực như thế.
Chơi Blog, thì theo thông lệ như mọi người tôi cũng sẵn lòng “minh bạch” cái riêng mình trước bàn dân thiên hạ. Và nếu được nhiều người hạ cố “nhòm ngó” đến thì cũng cảm thấy vui mừng, phấn khởi. Trang Blog của tôi ngày đông thì trên trăm lượt truy cập, ngày vắng thì cũng ba bốn chục lượt truy cập. Thế là tôi đã thỏa mãn lắm rồi. Đã là nguồn kích thích cho mình ngồi vào bàn mà đọc, mà học, mà viết lắm rồi. Mấy năm nay tôi viết khỏe hơn có lẽ là vì thế. Tôi rất cám ơn hai trang mạng “Tri ân cuộc đời” và “ngươichilinh.com” vì đó là những đầu ra khá thường xuyên của các bài viết của tôi. Cũng là cửa ngõ dẫn bạn đọc vào với trang Blog của tôi vậy. Ngoài ra đây cũng là hai nguồn gần gũi nhất cung cấp tài liệu cho tôi học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt hơn nữa là xin chân thành cám ơn chương trình 1044 đã trang bị cho tôi phương tiện hiện đại giúp cho tăng năng xuất lao động lên rất nhiều. Không phải đâu xa, năm 2007, khi làm những công trình tập hợp tư liệu của người xưa viết về Chí Linh, hàng tháng tôi phải sang thư viện tỉnh Hải Dương mượn sách về đọc. Mà có nhiều cuốn cần vẫn không có hoặc không vào diện được mượn mang về. Lại phải đi tận Hà Nội tìm và mua vậy. Hiệu sách mới không tìm được, tôi lại ra hiệu sách cũ bà Triệu. Vậy mà cuốn Lê Quý Đôn toàn tập người ta hét những 800.000 đồng, lúc đó là quá lớn đối với tôi. Tôi sục vào các tủ sách của bầu bạn. Được Trần Đình Ngôn tặng cho mấy cuốn. Chỉ có Lịch triều hiến chương loại chí mới tái bản là mua được bộ mới. Thiếu Lê Quý Đôn toàn tập, tôi lại về tìm lục các thư viện ở huyện. Thư viện huyện thì tôi biết là không có từ lâu rồi. Nhưng tôi ngờ rằng thư viện 490 hoặc Trường quân sự Quân Khu Ba có thể có. Rất may là tôi đã tìm được bộ này ở thư viện Trường Quân sự Quân Khu Ba. Nhưng từ khi có laptop tôi chả phải đi đâu cả mà cần tài liệu gì thì hầu hết là có ngay. Thảng hoặc mới có tài liệu không tìm được.Thành thử đối với tôi cái phương tiện này là vô cùng quý giá. Tôi cũng biết đây chính là một sự ưu ái đặc biệt của trò cũ đối với tôi rồi.
Nhưng vì đã sứt đầu mẻ trán nhiều vì những chuyện “tế nhị” và “khó xử”, nên tôi rất thông cảm với những người quản lý điều hành trang mạng. Nhất là với trang mạng Tri Ân mà trong đó thành phần tham gia bao gồm nhiều mối quan hệ thày trò, đồng ngũ, bầu bạn…Trong đó mối quan hệ thày trò là tế nhị và khó xử nhất. Tham gia trang mạng Tri Ân với tư cách là một “thày cũ” cũng là một khó xử đối với tôi. Bởi vì trong mối quan hệ này rất khó nói đến chuyện bình đẳng và sòng phẳng được, và phần thiệt thòi chịu đựng chắc chắn thuộc về phía các em, về phía học trò. Mối quan hệ với đồng nghiệp cũ cũng lại là một khó xử khác. Một người bạn đồng môn của tôi đã tổng kết một cách chính xác rằng trên đời này chỉ có hai mối quan hệ bình đẳng, vô tư và trong sáng đó là quan hệ “Bạn đồng môn” và “bạn đồng ngũ”. Ngoài ra ít nhiều đều  có vướng  mắc và thành kiến cả, nghĩa là đều phức tạp. Nhưng không thế thì đã chẳng là đời. Dù sao thì riêng bản thân tôi cũng muốn cố gắng hết mình để giảm tải những khó xử ấy cho những người hữu trách. Cụ thể là tôi chỉ viết lên Blog của tôi thôi. Mà khi viết Blog cá nhân thì cố nhiên là tôi phải viết trung thực như những điều mình cảm nhận và suy nghĩ. Tôi chỉ tham gia các trang mạng của các em với một sự thuận tình cho các em hữu trách được xem blog của tôi như một nguồn tài liệu của nhà, được toàn quyền lựa chọn và sử dụng. Nhưng như thế thì cũng chẳng có gì là đặc biệt, vì tôi thấy rất nhiều bài viết của tôi cũng trôi nổi trên rất nhiều các trang mạng, mà có ai hỏi han gì tôi đâu. Hình như đã thành một tiền lệ là đưa bài lên mạng là mặc nhiên thành của chung? Nếu có cái tiền lệ ấy thì tôi cũng chẳng có gì là ưu ái với các em cả. Thậm chí tôi còn vô trách nhiệm, đẩy quả bóng khó xử về phía các em. Nhưng biết làm sao được, cái gánh khó xử ấy, thày không gánh thì trò phải gánh.


Chí Linh 9/10/2011
Đỗ Đình Tuân



Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011

LO...



Tuổi già không dám ốm to
Mới hơi sậm soẹt đã lo giữ gìn
Kiêng ăn, kiêng uống, kiêng nhìn…
Bụng hơi hơi dịu, mới yên tấm mề.

9/10/2011
Đỗ Đình Tuân

BÀI CA VÀ CÂU THƠ



Bài ca…
Đồng rộng, trời cao
Cánh chim vỗ nắng bay vào hồn ai.



Câu thơ…
Đọng giọt sương mai
Gánh tình nặng
Gửi nơi người tri âm.

8/10/2011
Đỗ Đình Tuân

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

TRAO ĐỔI CÙNG XUÂN THẢO

Thày Tuân vừa mới đọc được một bức thư ngỏ của Xuân Thảo gởi thày Đỗ Đình Tuân trên trang Tri Ân. Thày Tuân phấn khởi lắm. Phấn khởi không phải vì thày Tuân được em “đánh giá cao” mà phấn khởi vì  chí ít trên Tri Ân thày Tuân cũng có một Xuân Thảo chân tình chia sẻ; cũng tương tự như xuân Thảo đã chân tình chia sẻ với thày Tư vậy: “Chạnh lòng đọc khổ thơ : " ĐÔNG " /Thương Thầy chiều xuống mà không bạn đời / Bàn đơn, ghế chiếc Thầy ơi / Thơ buồn, rượu tỉnh, Thầy tôi một mình /Biết bao thế hệ học sinh / Ơn Thầy còn nặng nghĩa tình năm xưa /Mong sao chia sẻ bây giờ /Để Thầy viết những vần thơ không buồn”
            Thày Tuân chỉ dám nhận những lời đánh giá của Xuân Thảo là một sự“chân tình chia sẻ” thôi chứ chưa dám xem mình đã ngang giá được như vậy. Bởi vì thày Tuân vốn là một người không có năng khiếu gì về văn chương cả. Thậm chí còn dốt nát về văn chương nữa là đằng khác. Thành công về văn chương sớm nhất của thày Tuân là hồi học lớp 5 ở Thiên thày Tuân có viết được một bài văn tả làng mình xuất sắc nhất lớp. Kỷ niệm ấy có lần thày Tuân đã kể lại trong “Những lớp học đầu đời”: “Tôi nhớ có lần thày đã cho chúng tôi làm một bài văn tả cảnh làng mình. Tôi viết về làng tôi rất thật, tất cả đều thật, về phong cảnh và cả về tập quán: “Làng Riêng vào đám đẫy trà/Vừa vào vừa giã vừa ra một ngày”. Nhưng có một chi tiết là tôi bịa. Đó là cánh đồng chiêm trũng trước làng tôi, tự nhiên lại biến thành một hồ sen, hoa nở bạt ngàn và hương thơm ngan ngát. Có lẽ chính cái chi tiết tôi bịa ra này đã làm cho bài văn đẹp hẳn lên chăng?”
            Năm sau thì cái trường cấp 2 ở Thiên ấy di chuyển về Nam Sách. Thày Tuân không theo trường mà sang thị xã Hải Dương học ở Nguyễn Bỉnh Khiêm. Suốt những năm học ở cấp 2, thày Tuân toàn phải thi lại về môn văn. Mà học sinh giỏi văn ngày ấy toàn là những nữ sinh thị xã, quần đen, áo hoa, khăn quàng đỏ, má phấn môi son, đẹp như các tiên đồng. Theo gợi ý của các thày dạy văn, Thày Tuân kỳ nghỉ hè nào cũng phải đến mượn các bài tập làm văn của các “thị nữ” ấy về làm tài liệu tham khảo mà học tập. Ngày ấy thày Tuân còn là một trai làng nhút nhát, vả lại lại “dốt văn” nên “xí hổ” và mặc cảm nhiều, nên chả dám chơi bời thân quen với một “tiên đồng thị nữ” nào cả, tuy rằng trong thâm tâm thì cũng có đôi lần xao xuyến. Trước đó, ngày còn học ở Chí Linh, thày Tuân cũng đã bị một cô “sơn nữ” hút hồn rồi. Nhưng cũng chỉ là một mối tình câm lặng, tự sinh ra rồi lại tự biến mất. Sau này cô ấy thành công nhân lâm sinh: “…Thoáng trong anh lại tiếng em cười / Khúc khích bên dòng suối vắng / Cô gái lâm sinh má hồng dưới nắng / Ngày ngày gieo hạt  ươm cây…” (Cánh rừng em)
May mắn là thời ấy học trò chưa phải học thêm. Ngoài mấy tiết nghe các thày giáng bài trên lớp thì học trò hoàn toàn được tự do tự học ở nhà. Vì “dốt văn” nên buộc lòng thày Tuân phải “đầu tư” nhiều vào môn văn. Thế là những năm học ở Hải Dương,  buổi sáng lên lớp, buổi tối học bài, còn buổi chiều, thì đa phần là thày Tuân đi ngồi thư viện. Đọc nhiều thành yêu văn học rồi “bôc hứng” lên cũng làm thơ mới khiếp chứ. Thày Tuân mua một cuốn sổ mới, bìa cứng hẳn hoi để làm thơ đấy. Rất may là bài thơ đầu tiên ấy thày Tuân còn giữ được. Nghe nó ngây ngô và buồn cười lắm. Bài Đầu tiên:
Lần đầu tiên tôi cầm sổ mới
Lòng ngập ngừng biết nói những chi
Nỗi vui mừng hay những nỗi sầu bi
Ôi khó nghĩ, thật là khó nghĩ
Tôi muốn thành một nhà thi sĩ
Để nói lên ý nghĩ của mình
Tôi chỉ là một cậu học sinh
Trong đầu óc chứa đầy mơ mộng
Thường say sưa với những niềm ảo vọng
Đầy lòng chan chứa những niềm vui
Chưa suy sâu nghĩ rộng việc đời
Sao có được những lời thơ thật sự
Và có được những bài văn đầy tình tự
Mà chỉ là những lời nói huyên thiên
Nó xuất ra theo giấc mộng triền miên.
                                   Thị xã Hải Dương
                                          1956
Kết quả của những năm ngồi thư viện là khi vào cấp ba thày Tuân bắt đầu “có tiếng” về văn thơ. Chả là ngay vào buổi khai giảng, thày Tuân đã lên ngâm luôn một bài thơ vừa sáng tác. Bài thơ dài như một trường ca. Sau buổi ấy nó được ngâm lên đài thị xã nên thày Tuân càng nổi tợn. Bài ấy thì thất lạc. Nhưng ấn tượng của bài thơ  trong tâm khảm bầu bạn thì lại khá đậm. Sau này trong lưu bút cuối khóa nhiều bạn đã ghi lại cái ấn tượng ấy: “…Nhà thơ thân yêu của tôi ơi. Anh làm thơ khá lắm, nhưng hơi buồn đó, âm điệu, mạch văn hao hao giống của thi sĩ Tố Hữu, điều đó tốt nhưng thiếu phần độc đáo. Xin lỗi mình dốt văn, nhưng coi Tuân như Hồng, như Quang, những người bạn học cũ nên mạnh dạn Tuân đừng phật ý nhé. Điều đó không phải là thiếu chín chắn. Ngày 16 tháng 9, sau khi ngâm thơ cho toàn trường, (mình sẽ nhớ đến chết cái chào đặc biệt của thi sĩ) nhiều nhà “Văn” như loại mình cũng nhận thấy thế. Hôm đó ngẫu hứng mình có làm một bài thơ với tựa đề “Tặng Tuân”, nhưng không tặng được vì thơ mình nó…(tùy Tuân hiểu). Đến hôm nay thay cho lời kết luận mình viết lại 2 đoạn (bài thơ có 3 đoạn)
Đêm nay nghe ngâm thơ Tuân
Lòng mình cao hứng viết mấy vần
Vần thơ tuy chán nhưng chân thật
Xin tặng Tuân yêu cả tấm lòng

Hơi thở nhịp thơ mình nghe quen
Phải chăng Tố Hữu đã nên men
Làm say thi sĩ rồi đấy nhỉ
Chúc Tuân kế bước sẽ trưởng thành
Ngày nay mình đã hiểu Tuân. Ngày mai, ngày kia chúng ta sẽ liên lạc chặt chẽ để hiểu nhau nhiều hơn” (Lưu bút của Vũ Đình Mai)”
Bây giờ đọc lại thơ mình ngày ấy thày Tuân mới thấy mình còn quá “ngố”, chưa hiểu gì về thơ cả mà mới là “bắt chước” làm thơ. Cái ông bạn Vũ Đính Mai của thày Tuân ấy đã nhận xét quá sắc sảo. Nhất là sau này khi lên học ở đại học, được trang bị kiến thức về lý luận văn học, thuyết này, thuyết kia thì lằng nhằng lắm…nhưng tựu chung thày Tuân hiểu văn chương có 3 yêu cầu chính: Chân tình, cá tính và tài năng. Thày Tuân hiểu chân tình tức là phải có rung động thực.  Yêu thực, ghét thực, không có gì là vờ vịt cả. Đây là yếu tố ban đầu để tạo ra sự thuyết phục của văn. Không ít những cô gái khi chọn bạn tình lại chọn các chàng trai tuy vụng về một chút nhưng thật bụng, hơn là chọn những anh chàng “dẻo mỏ”. Đó mới là những cô gái chín chắn, tinh đời, có trực cảm tốt nên không bị thói “nịnh đầm”, “ga lăng” đánh lừa. Cá tính tức là phải có nét riêng của mình, không giống ai, từ ý tứ, cho đến ngôn từ, giọng điệu…Không giống người đã đành mà còn kỵ cả sự lặp lại chính mình nữa ấy. Yêu cầu cuối cùng của văn chương là phải có tài năng. Bởi vì những tình cảm cảm xúc, những yêu nghét giận hờn xấy ra trong tâm trạng con người thì ai chả có. Nhưng chuyển được những rung động ấy thành văn chương thì phải có tài năng văn chương mới làm được. Văn chương không phải chỉ là gọi tên cái tình cảm cảm xúc của mình là đủ. Mới chỉ gọi tên thôi thì chưa là gì cả. Mà phải bằng một cách nào đó chuyển tải cái cảm xúc yêu trong lòng mình sang lòng người đọc thì mới thành văn chương. Chẳng hạn " Người dưng xa lắc xa lơ / Mà thương, mà nhớ...rồi chờ đợi nhau" Chính cái vớ vẩn đó mới là một trong "n" cách diễn ta tình yêu. Hiểu nôm na tức là phải có năng khiếu, cái bản năng trời cho làm vốn ban đầu. Theo công thức của Ê-đi-xơn thì Tài năng = 1% năng khiếu + 99% lao động, lao động cực nhọc. Cái 1%  năng khiếu ấy, tuy ít về khối lượng nhưng lại quyết định về chất lượng, vì nó là cái 1% của mầm hạt. Còn 99% kia chỉ là những chất dinh dưỡng dự trữ để nuôi dưỡng cái mầm hạt ấy khi nó mới nảy mầm. Thông thường những người có năng khiếu về một môn gì đó, thì tâm trí họ tự nhiên được định hướng về môn đó và quá trình tự tích lũy sẽ diến ra ngấm ngầm và vô cùng hiệu quả. Cứ nói ngay trong trang Tri Ân của mình thôi, cũng nhiều người có năng khiếu văn chương lắm. Nguyễn Khắc Nguyệt rất có năng khiếu về viết ký. Cậu ấy có học văn veo gì đâu, chỉ là một “lính tăng”thôi  mà viết ký rất hay. Nhưng đừng nghĩ rằng cậu ấy không tích lũy, không rèn luyện. Không tích lũy, không rèn luyện thì không thể có được cái sức bút dồi dào, cái tâm thế chủ động, cái ngòi bút sắc sảo  luôn khơi trúng nguồn mạch vấn đề. Nhưng Nguyễn Khắc Nguyệt lại tỏ ra không có năng khiếu về thơ. Nguyễn Minh Hương cũng chỉ là một kỹ sư nông nghiệp, ra đời thì hành nghề tay trái làm cán bộ phụ nữ mà viết truyện ngắn và làm thơ đều hay. Nhưng sở trường hơn của Minh Hương có lẽ là viết truyện ngắn. Đây là một ngòi bút giàu nữ tính, giàu chất thơ và viết khá tinh tế  về tâm hồn phụ nữ. Ngoài ra thày Tuân cũng còn thấy đây đó lấp lánh những năng khiếu văn chương rất đẹp nhưng công phu nuôi dưỡng phát huy còn chưa đủ độ. Trong số đó đáng tin hơn cả, về thơ có cậu Nguyễn Văn Thế. Nguyễn Văn Thế viết ít  nhưng thơ cậu ấy vừa tự nhiên, vừa hợp lý lại vừa khơi gợi. Nó đúng là thơ nên đọc rất thích. Người ta thường nói trong một người viết văn làm thơ cần phải có hai nhà: môt “nhà nghệ sĩ bốc đồng” và một “nhà phê bình tỉnh táo”. Nhà nghệ sĩ thì viết còn nhà phê bình thì phản biện và điều tiết chỉnh trang tác phấm. Hình như “hai nhà”  này khá cân bằng trong con người Nguyễn văn Thế cho nên thơ cậu ấy rất say mà vẫn tỉnh. Có điều là có cái “nhà phê bình tỉnh táo” này thì viết sẽ hơi khó. Nhưng không sao. Viết khó nhưng hễ được là được. Nguyễn Tô Quang  cũng là một người có năng khiếu rất quý về thơ nhưng thả dài, bỏ đói nên càng ngày càng gầy guộc và teo tóp đi. Trong đội ngũ các thày cô tay trái viết chơi, thày Tuân cũng thấy có trường hợp lấp lánh. Đó là trường hợp thơ cô Tú. Nhưng có lẽ là do quan niệm viết chơi, viết đùa nên công phu chưa đủ độ, mài giũa chưa kỹ càng, ngay cả ở những bài thơ ngắn. Thường là thiếu hoàn chỉnh, tự lặp lại hoặc gần với ý tứ của người khác…Cho nên đọc thơ cô Tú, thoáng lượt đầu thì thích, nhưng dừng lại ngắm nghía thì lại không thích nữa. Không phải ngẫu nhiên mà dưới những bài thơ của cô Tú đăng trên Tri Ân thường có nhiều người nhận xét, Thày Tuân chỉ xin dẫn một trường hợp cụ thể. Bài Duyên trời dưới đây chẳng hạn:
Người dưng xa lắc xa lơ
Mà thương, mà nhớ, rồi chờ đợi nhau.
Miếng trầu cánh phượng làm cầu,
Thắm duyên đến bạc mái đầu bên nhau.
Dưới bài này thày Tuân thấy có đến ba ý kiến đề nghị sửa chữa câu cuối. Một ý kiến đề nghị sửa thành là:
Thắm duyên đến bạc mái đầu vẫn son
Một ý kiến đề nghị sửa thành là:
Thắm duyên đến bạc mái đầu vẫn duyên
Một ý kiến đề nghị sửa thành là:
Thắm duyên đến bạc mái đầu không phai
Nhưng vì sao mà nhiều người đề nghị sửa cái câu này đi như vậy? Điều này thì thày Tuân đã chỉ ra ở  “Lục bát truyện Kiều “ rồi. Thày Tuân thấy suốt trong 3254 câu thơ kiều tức là có 1627 câu 8 chữ, các chữ thứ 6 và chữ thứ 8 đều không được trùng vần và trùng thanh điệu với nhau. Nếu trùng vần  thày Tuân gọi là hiện tượng “chập Vần”. Mà hiện tượng chập vần xẩy ra thì câu thơ sẽ ngang phè. Ở câu 4 trong bài thơ trên của cô Tú, chữ “đầu” (6) với chữ “nhau” (8) tuy khác thanh điệu (thanh huyền và thanh không) nhưng lại cận vần (âu và au) thế là đã xẩy ra hiện tượng chập vần làm câu thơ ngang. Câu thơ ngang làm cho tai người đọc khó chịu, họ đề nghị sửa có lẽ là vì thế. Trong 3 cách sửa ấy thì thày Tuân thiên về người thứ ba hơn vì về ý thì ba cách sửa đều tương đương nhau, nhưng về cách nói thì người thứ 3 có sự chuyển đổi. “Thắm duyên” là cách nói khẳng định. “Không phai” cũng là khẳng định nhưng cách nói là khẳng định bằng phủ định. Sự chuyển đổi về cách  nói này đã làm cho câu thơ linh hoạt hơn, nhạc điệu câu thơ cũng mềm hơn và màu sắc câu thơ cũng dịu lại, nên cảm giác thấy hay hơn hẳn.
Trong đội ngũ những người có học hành văn chương tử tế như Đỗ Đình Tuân, Nguyễn Duy Dự (Thanh Dạ), Vũ Thị Song Thu, Nguyễn Tô Hà, Nguyễn Vân Anh thì chỉ có Thanh Dạ là chuyên đi về sáng tác thơ, là có chân trong hội này, hội nọ… Nhưng người khác đều thiên về sưu tầm, nghiên cứu, phê bình, giới thiệu. Những nhìn chung họ còn ít viết, chưa bộc lộ hết  mình, nên  nhận xét gì về họ thì cũng còn hơi sớm. Riêng thày Tuân, vài ba năm gần đây có chịu viết hơn. Đó là vì được học trò cũ tin yêu và động viên nhiều làm thày Tuân phấn khởi. Thày Tuân viết vừa để ôn lại, vừa để học thêm, vừa để giao lưu với trò cũ và bầu bạn văn chương. Nếu những bài viết ấy, có giúp ích gì được cho ai, thì dù chỉ một chút thôi, thày Tuân cũng rất lấy làm mừng. Còn riêng với Xuân Thảo, nhiều thăng trầm, nhiều nếm trải, cái kho tàng vốn sống ấy là cực kỳ quý giá. Nhưng chuyển được cái vốn sống ấy vào tác phẩm lại cần có tài năng. Xuân Thảo cũng như thày Tuân trước đây, yêu văn chương đấy, nhưng không sẵn có vốn tài năng trời phú. Có lẽ, Xuân Thảo cũng phải đi theo con đường na ná như của thày Tuân thôi: lấy công làm lãi.
                                                     Chí Linh 7/10/2011
                                                        Đỗ Đình Tuân

                           


SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân