Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

Lại về vườn





(Một bài thơ viết lúc thôi làm việc ở CLB Côn Sơn tháng 12 năm 2005)
 
Lại về vườn

Sáu tư ta mới thật về vườn
Cơm áo bây giờ thôi trải bươn
Thân xác hom hem hình kẻ khó
Tâm hồn thắc thỏm nợ văn chương
Bánh trăng đêm sữa lung linh mộng
Rượu gió hoa vườn phảng phất hương
Khuya sớm vẫn ra người đủng đỉnh
Tình ai ấm lạnh tháng năm trường.

1/12/2005
(1/11Ất Dậu)
Đỗ Đình Tuân

Nỗi nhớ mùa thu


(Họa nguyên vận bài “Hạ ca” của Lê Thiên Minh Khoa)
  Đã sửa chữa cho đối và đúng vần của bài xướng
I
Lá vàng lác đác rụng bên đường
Ô thước bắc cầu nối bến thương
Sùi sụt mưa ngâu buồn đứt ruột
Long lanh giọt ngọc nẫu can trường
Nhân duyên ngày ấy e người tục
Gặp gỡ hôm nao ửng má hường
Tiên tục bên nhau tình khắc cốt
Truyền đời mãi mãi mối tơ vương.
II
Heo may xào xạc thổi trên đường
Ấp ủ bên lòng nỗi nhớ thương
Nhớ kẻ bơ vơ miền đất lạ
Thương người vò võ những đêm trường
Nhớ cây hồng chín rung rinh đỏ
Thương vị cốm vòng ngan ngát hương
Chẳng được nên duyên se chỉ thắm
Nên giờ dằng dặc nỗi buồn vương...

7/10/2012
Đỗ Đình Tuân

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

Gửi ảnh cho Hữu Trung

Ảnh Văn Nhã và Xuân Hiểu; nhờ Hữu Trung chon, chỉnh sửa (nếu được) và dán lên TRI ÂN CUỘC ĐỜI giúp. Xin trân trọng cám ơn.




Danh nhân nho sĩ viết về Chí Linh 8

                                          Đền thờ nhà Bác học Lê Quý Đôn


                                Lê Quý Đôn
                                (1726-1784)

          Lê Quý Đôn, chính tên là Lê Danh Ph­ương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đư­ờng, ng­ười làng Diên Hà ,huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam, nay thuộc thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện H­ưng Hà tỉnh Thái Bình.
         Lê Quý Đôn t­ư chất thông minh, lúc nhỏ đư­ợc coi là thần đồng. Năm 13 tuổi theo cha(Tiến sĩ Lê Phú Thứ) lên Thăng Long học, 17 tuổi đỗ đầu thi Hư­ơng, khoa Quý Hợi(1743), nhân dịp này đổi tên thành Lê Quý Đôn. Năm 26 tuổi đỗ đầu thi Hội, vào thi Đình đỗ Bảng nhãn khoa Nhâm Thân(1752), khoa này không lấy trạng nguyên.
       Khi đi làm quan, ông lần lư­ợt đư­ợc bổ chức Thị thư Viện hàn lâm ,rồi Toản tu quốc sử;Sau biệt phái sang phủ chúa cai quản phiên binh,thăng trải qua nhiều chức:Thị giảng Viện hàn lâm,Học sĩ Bí th­ư các,Đốc đồng xứ Kinh Bắc,Tham chính xứ Hải Dư­ơng. Sau đó, ông đã xin về hư­u viết sách.Khi Trịnh Sâm lên nắm quyền(1767) có mời ông trở lại làm việc,ông đ­ược phục chức Thị thư­, đư­ợc tham gia biên soạn quốc sử kiêm T­ư nghiệp Quốc tử giám. Năm 1769 làm Tán lý quân vụ trong quân đội của Phan Phái hầu đi dẹp cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật.Sau đó giữ các chức:Phó đô ngự sử, Hữu thị lang bộ Công, Bồi tụng, Hành tham tụng...Năm 1778 chuyến sang Ban võ, chức Hữu hiệu điểm quyền phủ sự(quyền Tể tư­ớng).Năm 1779 bị giáng chức rồi lại đư­ợc phục chức.
      Lê Quý Đôn là ngư­ời có trí nhớ phi thư­ờng.Tư­ơng truyền chuyến ông đi sứ sang Trung Quốc(1760-1762),khi đi ông có ghé vào ngồi trong một quán nư­ớc ở Lạng Sơn;Thấy cuốn sổ ghi nợ của bà chủ quán, do thói quen đọc sách tự nhiên ông cầm lên đọc qua.Khi về qua đây, ông thấy quán đã cháy rụi và bà chủ quán thì đang kêu gào thảm thiết vì cháy mất sổ ghi nợ, không biết căn cứ vào đâu để đòi tiền. Lê Quý Đôn đã bảo bà chủ quán lấy giấy bút cho ông và ông đã ghi lại đầy đủ nội dung cuốn sổ ghi nợ cho bà chủ quán nọ. Ông cũng là ng­ười chăm đọc và chăm ghi chép, có lẽ vì thế mà vốn hiểu biết của ông cực kỳ sâu rộng.Trư­ớc tác của ông cực kỳ phong phú và thuộc đủ mọi lĩnh vực: Đại Việt thông sử(1749),Quần th­ư khảo biện(1757), đồ sộ nhất là bộ Vân đài loại ngữ: Đây là bộ sách tổng hợp, hệ thống hóa tri thức nhiều ngành khoa học, nghệ thuật...trong đó trích dẫn tới 557 cuốn sách, có cả sách châu Âu đã dịch ra chữ Hán. Ngoài ra còn có các bộ: Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục, Toàn Việt thi lục...
     Sáng tác văn thơ không phải là đóng góp chính của ông nh­ưng ông cũng để lại một số tập sau: Tiêu T­ương bách vịnh, Quế Đ­ường thi tập, Quế Đư­ờng văn tập(đã thất truyền) và một số phú, kinh nghĩa, thơ, diễn ca bằng chữ Nôm.
      Chúng tôi có tìm đ­ược một bài thơ của ông viết về một ngôi chùa ở đất Chí Linh. Có thể là trong thời kỳ nhận chức Tham chính xứ Hải D­ương ông đã có dịp du lãm ngôi chùa này mà viết chăng?

Phiên âm
                   Hư­ơng Hải tự 1
            Kỷ niên hiên khoát viễn trần ai,
            Thu thủy xuân sơn nhất giám khai.
            Giang nguyệt bất tùy lư­u thủy khứ,
            Thiên phong thư­ờng tống hải đào lai.
            Tiên kỳ hoàn khách thôi thi tứ,
            Ngọc ảnh l­ưu nhân động tráng hoài.
            Tận nhật đăng lâm vô hạn hứng,
            Tịch d­ương chỉ xích cận Bồng lai.2
Dịch nghĩa
                   Chùa H­ương Hải
               Ngôi chùa cao rộng sáng sủa đã bao nhiêu năm xa cách cõi trần,
               Nư­ớc mùa thu,núi mùa xuân,một bầu g­ương sáng mở ra.
               Trăng lòng sông không theo dòng nư­ớc chảy đi,
               Gió ngoài trời th­ường đư­a sóng bể tràn lên.
               Cờ tiên gọi khách d­ường nh­ư giục tứ thơ,
               Bóng ngọc quyến ngư­ời muốn gợi tấm lòng hùng mạnh.
               Suốt ngày ngoạn cảnh niềm hứng thú không kể xiết,
               Tà d­ương gác bóng nh­ư gần cung điện Bồng Lai trong gang tấc.
Dịch thơ          

Bao năm cao rộng cách xa đời

Nước biếc non xanh một tấm soi
Gió bể đưa vào con sóng vỗ
Lòng sông nước chảy sáng trăng soi
Cờ tiên gọi khách lòng thêm hứng
Bóng ngọc quyến người gợi thú vui
Ngoạn cảnh suốt ngày khôn xiết kể
Tà dương gác bóng ngỡ Bồng Lai
                     Đỗ Đình Tuân dịch
Ghi chú
               1-Hương hải tự : tức chùa Hương hải, đặt tại thôn Tiền, xã Phụ Vệ, huyện Chí Linh(cổ), naylà Tiền Trung Nam Sách.
               2-Bồng Lai: tên một hòn núi trong ba hòn núi của tiên ở vùng biển Bột Hải (Trung Quốc).ở đây chỉ cảnh đẹp như cảnh tiên.


                   CÁC VỊ THIỀN DẬT Ở CHÍ LINH

                                    1-Pháp Loa

            Pháp Loa tôn giả, sinh nhằm năm Thiệu Phong thứ sáu triều nhà Trần, tại thôn Đồng Hòa, hương Cửu La, thuộc Nam Sách giang(nay là thôn Tiền, xã Phụ Vệ, phủ Nam Sách, tên cũ là Đồng Hòa, sau chia làm hai, một là thôn Đồng, một là thôn Tiền. Thôn Tiền là chỗ chôn rau cắt rốn của tôn giả, thổ trạch ấy bây giờ vẫn còn). Bà mẹ đêm nằm mộng thấy một người kỳ dị trao cho thanh thần kiếm, mừng rỡ cất vào trong bụng, lúc tỉnh dậy thì có mang. Khi sinh, mùi thơm lạ đầy nhà, lâu mới tan hết. Pháp Loa lúc còn bé thông minh rất sớm, không nói lời thô tục, không ăn mùi hôi tanh, năm 28 tuổi, Nhân Tông ra chơi Nam Sách giang, trông thấy, lấy làm kỳ dị và nói: “Thằng cháu này có con mắt đạo học, sau tất làm tiêu biểu cho pháp môn”.Vả lại mừng về tương lai, nên đặt tên cho là Hỉ Lai, sau thụ giới ở lều Kỳ Lân, mới đổi tên là Pháp Loa. Năm Hưng Long thứ 16 1, phong cho làm Trúc Lâm đệ nhị tổ sư. Lúc Nhân Tông tịch ở am Ngọa Vân, nhà sư phụng xá lị 2vào yên trí ở đại nội 3(việc này có chép rõ trong Quốc sử). Sau Nhân Tông mất, nhà sư tu hành ở núi Yên Tử. Sư Huyền Quang cũng theo nhà sư học đạo, không mấy lúc rời bên cạnh. Anh Tông cho hiệu là Phổ Trí tôn giả, sau đó mỗi khi viết thư gửi cho nhà sư, Anh tông đều xưng là đệ tử. Nhà sư phụng chiếu chỉ cầu mưa thường được linh ứng, có dựng viện Quỳnh Lâm và các am Hồ Thiên, Chân Lạc, lại mở cảnh núi Côn Sơn và Thanh Mai, năm 44 tuổi thì tịch, có bài kệ rằng:
                   Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn,
                   Tứ thập niên dư biến huyễn gian.
                   Trân trọng chư nhân hưu tá vấn,
                   Na biên phong nguyệt cánh khoa khoan.
            Tạm dịch:
                   Trần duyên cắt đứt được nhàn thân,
                   Bốn chục năm hơn luống chuyển vần.
                   Nhắn nhủ mọi người đừng viếng hỏi,
                   Bên kia trăng gió rộng vô ngần.
            Đệ tử dựng tháp ở núi Thanh Mai(Trên đây theo bia niên phả trong tập sách của thị giả là Trung Minh mà thuật lại một cách sơ lược. Tương truyền tập này Pháp chân tử Huyền Quang đã khảo đính. Nay ở chùa Hương Hải còn phảng phất dấu vết có thể nhận được). Những nơi đã được nhà sư manh tích trượng vân du, đều là danh lam cả. Còn chùa Hương Hải ở bản xã, từ trước vẫn tỏ linh ứng, học trò đi thi, phần nhiều đến cầu báo mộng, không bao giờ là không ứng nghiệm, đến nay vẫn thế.
                                                          (Kiến văn tiểu lục)

                              2-Huyền Quang

            Sư Huyền Quang, người thời nhà Trần, học rộng, thơ hay, trong Việt âm thi tập có chép một bài thất ngôn tuyệt cú của thiền sư, thì tựa hồ không phải khẩu khiếu nhà chùa, còn bài ngũ ngôn và bài thất ngôn thì lời thơ cũng phăng phẳng. Trong Trích diễm thi tập có chép một bài ngũ ngôn tuyệt cú và 21 bài thất ngôn tuyệt cú, thì thơ văn tinh tế, rất có khí tượng cao siêu. Trong sách ấy chua rằng: “ Thiền sư người xã Vạn Tải huyện Vũ Ninh(sau đổi là huyện Gia Định, nay đổi là huyện Gia Bình), lúc lên chín tuổi đã biết làm thơ văn, học tập về nghề nghiệp thi cử, 19 tuổi vào chùa học đạo, tức là đệ tam tổ trong môn phái Trúc Lâm, có tập thơ Ngọc tiên và các tập thơ khác lưu hành ở đời”. Cứ như thế thì tục truyền là thiền sư đỗ trạng nguyên, sau từ quan về làm thày chùa, là không đúng. Tập Trích diễm  do Hoàng Đức Lương biên soạn vào khoảng năm Hồng Đức. Lúc ấy gần với thời đại nhà Trần, thì lời nói của Hoàng Đức Lương có lẽ không sai,….

                             MẤY LINH TÍCH Ở CHÍ LINH

            1-Đền thờ Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư 1, ở xã Linh Giang huyện Chí Linh 2, rất anh linh. Sử ký chép, Nhân Huệ vương thường bị vua quở trách, phải về ở nhà. Khi Trần Thánh Tông chạy tránh giặc Nguyên ra Chí Linh được gặp ông, lại cất nhắc giữ công việc trọng đại. Có lẽ chỗ ở của ông, hoặc ở ngay nơi đền thờ, hoặc ở gần đấy, đều không thể khảo cứu được. Tục truyền, triều đại trước, thường khảo hạch học trò ở bên cạnh đền. Một anh học trò làm bài, đến đoạn chê trách những người làm bầy tôi, anh học trò khác hỏi: “Nên chê trách ai?”, anh học trò ấy chỉ vào đền thờ Nhân Huệ vương để bảo ngầm cho anh kia biết. Bởi vì kết luận của anh học trò ấy có câu rằng “Trần Khánh Dư chi tham bỉ dã”(Trần Khánh Dư là người tham ô bỉ ổi). Đêm hôm ấy anh học trò nằm mộng thấy Nhân Huệ vương bảo rằng: “Ta có phụ bạc gì nhà ngươi mà nhà ngưiư đem ta ra chỉ trích”. Khi tỉnh dậy, anh học trò lấy làm kinh dị. Ít lâu nay, địa phương bị loạn, chùa miếu phần nhiều bị giặc cướp triệt hạ đem bán, phàm chùa miếu gần sông cái, không còn một ngôi nào. Đền thờ Nhân Huệ vương ở bái sông, thường có kẻ gian đến triệt hạ, khi trèo lên đền, liền bị hôn mê lảo đảo, không sao đứng vững, người khác lại trèo lên, cũng bị như thế, sau họ dùng súng để bắn, hai lần bắn súng đều không nổ, bèn không dám xâm phạm đến nữa. Đền ấy nay vẫn nguy nga.

            2-Đền Quốc Phụ  ở xã Kiệt Đặc huyện Chí Linh, là thổ trạch cũ của Trần Quốc Điền 3 , quốc phụ thượng tể thời nhà Trần, thổ trạch này liền với sông cái. Tục truyền ông có thuật lạ, cứ ba ngày một lần vào triều, buổi tối còn ở nhà, buổi sáng hôm sau đã ở kinh sư. Bởi lúc ấy đường thủy sông Thiên Đức 4 thương lưu thông, ông dùng thuyền nhỏ trèo mau, nên đi một đêm có thể đến kinh được. Ông bị người ta dèm pha mà phải chết 5, sau mới dựng đền thờ ngay chỗ thổ trạch của ông, đền vẫn có tiếng linh thiêng. Trần Minh Tông thường đến chơi, bị ong vàng đốt cho vào má bên trái mà chết. Đến nay cầu mưa đẩo nắng đều ứng nghiệm cả. Tục truyền một lần gặp đại hạn, người trong hương Kiệt Đặc rủ người xã Quảng Tân ở tổng khác góp chung tiền gạo làm lễ cầu đảo. Những người ở xã Quảng Tân lấy cớ là cách sông lớn không bằng lòng góp. Sau khi cầu đảo được mưa, thì chỉ mưa ở địa phận bêb bờ bắc sông lớn, còn một dải địa phận về bờ bên nam sông vẫn nắng. Người ta đều lấy làm kinh dị.

            3-Đền thờ Cao Sơn Đại vương ở xã Lang giản huyện Chí Linh 6. Tục truyền rằng, đại vương tinh thông nghề làm thuốc, rất sở trường về môn chữa bệnh sởi đậu, thường hiển hiện làm thày thuốc đi chũa bệnh. Trước kia có người ở Sơn Tây, con bị lên đậu lên sởi, khi người này đi đường, gặp một ông già tự nói có thể chũa khỏi bệnh, người ấy đón về, ông già cho thuốc, quả nhiên kiến hiệu, bèn hỏi chỗ ở và họ tên, ông già nói: “Tên tôi là Cao Sơn, nhà ở xứ Đầu Hồ, xã Lang Giản, huyện Chí Linh”.Người ấy theo lời, đến tạ ơn, khi đến nơi thì chỉ thấy trơ trọi một ngôi đền thờ thần, cây cối um tùm, mới biết là hiển thánh, liền chiêm ngưỡng lạy tạ rồi trở về. Thần nổi tiếng là thần y, mỗi khi ai có bệnh, đem lễ chay(đền này thờ cúng bằng lễ chay) và một hồ nước trong đến dưới đền, bày tỏ chứng bệnh, xin ban ơn cho thuốc thần; sau khi cầu đảo xong, lại dùng nước ấy cho người bệnh uống, thường nhiều người được khỏi bệnh. Kẻ xa người gần nào xin thuốc, nào bán con, theo tuần tiết cầu đảo, lễ bái không sao kể xiết, đến nay vẫn còn.

                                                                   (Kiến văn tiểu lục)

Ghi chú
               1-Trần Khánh Dư, tôn thất nhà Trần, con đẻ của thượng tướng Trần Phó Duyệt, con nuôi của vua Trần Thánh Tông, có nhà riêng ở châu Chí Linh, thuộc vùng đất các xã Nhân Huệ và Cổ Thành ngày nay.
               2-Xã Linh giang huyện Chí Linh,sau đổi là xã Linh Giàng( tránh Húy Trịnh Giang), tục gọi là làng Gốm, nay xã Cổ Thành Huyện Chí Linh.
               3-Trần Quốc Điền: Đại Việt sử ký toàn thư và nhiều tài liệu khác chép là Trần Quốc Chẩn.
               4-Sông Thiên Đức: tục gọi là sông Đuống, con sông nối sông Hồng với các sông Kinh Thày, sông Lục Đầu và sông Thái Bình.
               5-Trần Quốc Điền(theo ghi chép của Lê Quý Đôn), là tôn thất nhà Trần, có nhiều công lao trong đánh dẹp Chiêm Thành, được Vua Trần Anh Tông rất tin dùng, là nhạc phụ của vua Trần Minh Tông, bị Văn Hiến Hầu(không rõ tên) vu cho làm phản,Trần Minh Tông hồ đồ tin theo,bắt giam trong chùa Tư Phúc, không cho ăn uống gì đến chết, đến đời Trần Dụ Tông biết bị oan lại khôi phục cho chức tước.
               6- Xã Lang Giản huyện Chí Linh: nay là thôn Lương gián, xã Quốc Tuấn huyện Nam Sách tỉnh hải Dương.


                                   Nguyễn Trãi

            Nguyễn Trãi là cháu ngoại quan Chương Túc hầu 1 nhà Trần và là con ông Nguyễn Phi Khanh, đỗ tiến sĩ triều nhà Hồ 2, đã sẵn thanh danh vị vọng, khi vào yết kiến(Bình Định vương) ở Lỗi Giang 3, liền được tri ngộ, viết thư gửi tướng súy nhà Minh, thảo hịch truyền đi các lộ, đứng vào bậc nhất trong một đời, chức vị là thượng thư, cấp bậc là công thần.Cứ xem ông giúp chính trị hai triều vua 4, hết lòng trung thành, tuy dâng lời khuyên răn, thường bị đè nén, mà không từng chịu khuất.Đối xử giữa khoảng họ Giáng, họ Quán 5 điều lễ tốn nhiều công phu; nhưng vì tối về  nghĩa “chỉ, túc” 6  thành ra cuối cùng không giữ được tốt lành, thật đáng thương xót ! Nguyễn Vĩ, một người cháu xa đời của Nguyễn Trãi, xuất trình chế văn truy tặng cho ông  tước Tế Văn hầu 7, trong ấy có câu rằng: “Long hổ phong vân chi hội, do tưởng tiền duyên; văn chương sự nghiệp chi truyền, vĩnh thùy hậu thế” (Gặp gỡ long hổ phong vân, còn ghi duyên cũ, truyền tụng văn chương sự nghiệp, để mãi đời sau). Câu ấy đủ tỏ ra rằng người có công lao đứng đầu về việc giúp rập vua, thì ngàn năm không thể mai một được.
                                                                   (Kiến văn tiểu lục)
Ghi chú
               1-Chương Túc hầu: tức Trần Nguyên Đán, tôn thất nhà Trần.
               2-Đỗ tiến sĩ đời nhà Hồ: Năm Canh Thìn(1400) niên hiệu Thánh Nguyên thứ nhất đời Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh(tức tiến sĩ).
               3-Lỗi Giang: một chi lưu của sông Mã, ở địa phận huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa.
               4-Hai triều vua: tức triều Lê Thái Tổ và triều Lê Thái Tông.
               5-Giáng, Quán: tức Chu Bột và Quán Anh, bầy tôi của Hán Cao Tổ, hai người này đều không có học vấn,lại hay chèn ép bạn đồng liêu.Ở đây có ý ám chỉ bọn Lê Sát, Lê Ngân… bầy tôi nhà Lê lúc bấy giờ.
               6-Chỉ, túc: do câu “Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi” của Lão Tử, có nghĩa là “Biết đủ thì không bị nhục, biết dưng thì không gặp nguy hiểm”.
               7-Tước Tế Văn hầu: do Tương Dực đế truy tặng. Chế văn đề ngày 27 tháng 6 năm Hồng Thuận thứ 4 (1512), sau khi Nguyễn Trãi bị nạn 70 năm.

4/10/2012
ĐỖ Đình Tuân



Lên sao


                                           Mô hình định cư trên sao hỏa




(Họa nguyên vận bài “Gửi Liên hiệp quốc” của TD)

Trời thủng đất long núi lửa trào
Tro tàn khí độc bốc lên cao
Môi trường hủy hoại còn đâu nữa
Đùm dúm nhau lên chúng ở SAO.

4/10/2012
Đỗ Đình Tuân

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Danh nhân nho sĩ viết về Chí Linh 7



                                    Nguyễn Bỉnh Khiêm
                                           (1491-1585)

                                      Đền thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tại quê nhà

Nguyễn Bỉnh Khiêm nguyên có tên khai sinh là Nguyễn Văn Đạt, sinh năm Tân Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 22 dưới triều Lê Thánh Tông (1491), tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Cha ông là giám sinh Nguyễn Văn Định, đạo hiệu là Cù Xuyên nổi tiếng hay chữ nhưng không thành đạt trên đường khoa cử. Mẹ ông là bà Nhữ Thị Thục, con gái út của quan Tiến sĩ Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan (triều Lê Thánh Tông). Bà Nhữ Thị Thục là một người phụ nữ khác thường, học rộng biết nhiều lại giỏi tướng số, nên muốn chọn một người chồng tài giỏi để sinh con có thể làm nên đế nghiệp. Mãi đến khi đã luống tuổi bà mới đành phải nghe lời cha lấy ông Định tuy không thành đạt nhưng có tướng sinh quý tử.
Quê ngoại Nguyễn Bỉnh Khiêm là làng An Tử Hạ, huyên Tiên Minh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (nay là thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, chỉ cách quê nội ông có con sông hàn (Tuyết Giang). Sau khi sinh được Nguyễn Bỉnh Khiêm, lại tiên đoán nhà Lê sắp suy vong, nên bà Thục có ý định “rèn cặp” Nguyễn Bỉnh Khiêm để sau này làm vua. Ý định này cùa bà không được ông Định tán thành. Bà chê ông Định là người không biết dậy con. Vì thế bà đã bỏ chồng và đem theo Nguyễn Bỉnh Khiêm về ở bên quê ngoại. Tại đây Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được ông ngoại và mẹ đẻ hết lòng dậy dỗ.
Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm đến tuổi trưởng thành, nghe ở làng Lạch Triều (Hoặng Hóa, Thanh Hóa ngày nay) có Bảng Nhãn Lương Đắc Bằng nổi danh trong giới sỹ phu đương thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cất công vào tận đây để tầm sư học đạo. Lương Đắc Bằng cũng từng giữ chức Thương thư ở thời Lê sơ, nhưng sau khi đề xuất một số kế sách nhằm ổn định triều chính không được nhà vua thi hành, ông đã cáo quan về quê dậy học(1509). Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn sáng dạ lại chăm chỉ say mê học hành nên đã trở thành người học trò xuất săc và được thầy Lương Đắc Bằng tin tưởng và yêu mến. Trước lúc qua đời ông đã trao lại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm bộ sách quý về Dịch học đó là bộ Thái Ất thần kinh và ủy thác người con trai Lương Hữu Khánh cho Nguyễn Bỉnh Khiêm dạy dỗ.
Sống trong thời đại loạn, không muốn đi lại vết xe cũ của người thày dậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã rất đắn đo tính toán trong việc đi thi. Vì thế mãi đến năm 1535 khi nhà Mạc đã vào thế ổn định, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới ra ừ
ứng thí. Kỳ thi ấy ông đỗ Trạng nguyên ở tuổi 45. Ngay sau khi đỗ đạt ông được giao chức Đông các hiệu thư, một chức quan chuyên soạn thảo và sửa chữa văn thư của triều đình. Sau đó ông còn được cử giữ nhiều chức vụ khác nhau như Tả thị lang bộ Hình, Tả thị lang bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ. Nhưng đến năm Đại Chính thứ 11, Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh), đột ngột qua đời, thì triều chính lại nhiễu nhương. Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải) còn nhỏ, quan lại chia bè kết phái thi nhau lộng hành, Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ xin chém 18 lộng thần nhưng không được vua Mạc chấp thuận. Bởi vậy năm 1542 ông xin về quê trí sĩ sau 8 năm làm quan cho nhà Mạc.
Tuy về trí sĩ nhưng triều đình nhà Mạc vẫn hết sức tôn trọng ông. Năm 1544, vua Mạc cho người về phong tước Trình Tuyền Hầu cho ông; sau lại thăng lên Thượng thư bộ Lại, Thái phó, tước Trình Quốc Công. Do vậy mà dân gian quen gọi ông là Trạng Trình. Từ khi về hư đến mãi năm 73 tuổi, tuy không tại triều nhưng vẫn cáng đáng nhiều việc triều chính, vua Mạc vẫn kính ông như một vị quân sư. Mãi sau 73 tuổi ông mới thực sự treo ấn từ quan.
Trong những năm trí sĩ và những năm quy ẩn tại quê nhà, Nguyễn Bỉnh Khiêm có cho dựng am Bạch Vân, quán Trung Tân, cầu Nghinh Phong, cầu Trường Xuân cho dân qua lại thuận tiện và mở trường dậy học tại sông Tuyết. Vì thế mà sau này môn sinh mới suy tôn ông là Tuyết Giang phu tử. Học trò của ông nhiều người hiển đạt như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Trương Thời Cử, Đinh Thời Trung, Hàn Giang cư sĩ Nguyễn Văn Chính (con giai trưởng của ông)…
Ngày 28 tháng 11 năm Ất Dậu , niên hiệu Đoan Thái nguyên niên (1585), ông tạ thế tại quê nhà, hưởng thọ 95 tuổi. Vua Mạc Mậu Hợp cử Phụ chính đại thần Ưng vương Mạc Đôn Nhượng cùng văn võ bá quan về cử hành lễ tang, lại sai cấp một trăm mẫu tự điền và 3000 quan tiền để dựng đền thờ ông ngay tại quê nhà và đích thân vua viết chữ lên biển gắn tại đền thờ “ Mạc Triều Trạng nguyên Tể tướng từ”
Nguyễn Bỉnh Khiêm có cả thảy ba vợ và 12 người con trong đó có 7 người con trai. Nhưng sau khi nhà Mạc mất con cái ông phải thay tên đổi họ li tán thập phương. Con tai cả vè Trường Yên Ninh Bình, con trai út sang An Tử Hạ để trong coi mộ phần và thờ phụng ông ngoại Nhữ Văn Lan và thân mẫu Nhữ Thị Thục…
Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng tác rất nhiều thơ văn cả bằng chữ Hán và chữ Nôm và đặc biệt nhất có một loại thơ ca tiên đoán tình hình thời cuộc thường được gọi là Sấm Trạng Trình được lưu hành rộng rãi trong dân gian khá ly kỳ và bí ẩn thu hút rất nhiều sự chú ý của người đời. Nhưng chưa rõ là đây có thực sự là của ông viết ra hay không (?) Với Chí Linh, Nguyễn Bỉnh Khiêm có soạn bài Vạn Kiếp từ tế văn. Dưới đây là bản dịch của bài văn tế:

                         VĂN TẾ ĐỀN VẠN KIẾP

(Nguyễn Bỉnh Khiêm, hiệu Bạch Vân, Trạng nguyên khoa Ất Mùi năm Đại Chính thứ 6 (1535) triều Mạc, tước Trình Quốc Công, soạn)

Kính cáo trước thần vị của Đại Nguyên soái, Khâm sai tiết chế binh mã các quân doanh trong thiên hạ, Thái sư, Thượng phụ, Thượng Quốc công, Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương, đước các triều đại ban sắc phong là Chí trung Đại nghĩa Mậu đức Hồng huân Trác vĩ Thượng Thượng đẳng thần.
Kính nghĩ:
Dòng dõi họ Trần phái sinh thế hệ; non nước phương Nam hun đúc linh thiêng.
Mộng ứng người hiền, lẫy lừng trời đất thi thố tài năng; lưng đeo kiếm ấn, lồng lộng tâm can chứa ngàn tinh tú.
Dụng võ phô văn, đảm đương cột rường đất nước; tôi trung con hiếu, tạo nên sự nghiệp thánh hiền.
Vững vàng trong hiểm nạn, phò nước như Quách Phần Dương 1; lỗi lạc tỏ quang minh, tận tụy dường Hán thừa tướng 2.
 Rút giáo tỏ chí ba quân hiên ngang trượng nghĩa; xăm tay “Sát Thát” 3 hai chữ hăng hái diệt thù.
Uy lừng trăm, hùng dũng đoạt giáo bến đò; bày trận Lục Hoa 4, thần diệu cọc ngầm mặt nước.
Tiết vàng cờ đỏ, thần binh răm rắp tuân theo mưu thánh; áo ngắn đai dài, vũ khố đầy đủ tề chỉnh quân uy.
Ba lần đánh đuổi giặc Nguyên cứu vớt sinh linh thoát ách man di; một phen khôi phục nhà Trần vãn hồi nước Nam ngời ngời phong hóa.
Thân kiêm văn võ bốn triều, bia thần rạng ngời muôn thuở; thanh danh lẫy lừng hai nước, ngựa đá hùng dũng ngàn năm.
Vua sáng tôi hiền gặp gỡ, thiên cổ kỳ duyên; công đức để lại muôn người, tràn trề xuân sắc.
Phú quý về quê, chốn thảo dã vẫn dự bàn quốc sự; cung đình xa cách, xe rước sứ vẫn tìm đón gót tiên.
Thu sầu lặng ngắm mảnh vườn cũ, mấy nẻo nào cúc nào tùng; ý nhạc im nghe chốn thiên cung, năm canh tiếng tiêu tiếng trống.
Quả vậy, danh phúc kiêm toàn, cõi trời Nam nào ai dám sánh; xem thế trung thành một dạ, ngọn bút sử cũng khó chép biên.
Một nhà sinh tướng tài mưu lược, lẫy lừng áo mũ vẻ vang; lịch triều đều phù hộ chiến công, rực rỡ sắc phong ban tặng.
Sao trời cùng sông núi trường tồn, cột rường cho muôn thuở; sử sách với cỏ cây còn mãi, trời đất vẫn sắt son.
Sách bí truyền 5 kinh hồn bầy giặc dữ, ánh kiếm át cả sao ngưu; bài hịch văn 6 vỡ mật lũ gian hùng, nghĩa khí bao trùm vũ trụ
Giúp nước cứu dân, Bạch Đằng chở dồi dào phúc trạch; trừ gian dẹp giặc, Dược Sơn còn khắc đá ghi công.
Nghi ngút khói hương không đứt, đền thiêng Vạn Kiếp trang nghiêm; thiêng liêng thờ phụng tôn sùng, sánh với thập phương Bồ tát.
Cán cân họa phúc thăng bằng, gương trời soi nào đâu xa cách;tấm lòng chân thành tôn kính, ngỏ lời cầu ắt được cảm thông.
Chúng tôi:
Từ lâu cung kính phụng thờ; luôn được đội ơn trời bể
Theo quốc điển Xuân Thu cúng tế; noi người xưa sớm tối đèn hương.
Ngước nhìn mây giăng đầu Yên Phụ, gần gang tấc tưởng lăng miếu thuở xưa; vọng ngắm bóng tà chốn trúc cung, nghìn vạn dặm cỏ cây đượm sắc.
Nguyện tỏ bày nỗi niềm thành kính; xin soi xét cho cho tấm lòng son.
Ban cho dồi dào ngũ phúc, vinh hạnh tắm gội ân quang; diệt trừ mọi nối tai ương thảy đều hưởng nhuần huệ vũ.
Nghìn năm sau vẫn hiển hiện về, linh thiêng khôn kể xiết; bốn phương trời chúng dân sùng phụng, nhờ cậy đến vô cùng.
Tế văn vụng soạn, khó mong kể hết công đức cao dày; cầu đảo tán dương, nguyện xin bề trên đèn trời soi xét.
     (Theo bản dịch của Di sản Hán Nôm, Ban Quản lý Côn Sơn Kiếp Bạc
                  Nhà xuất bản chính trị quốc gia ấn hành năm 2006)

Ghi chú
1.Quách Phần Dương: tức Quách Tử Nghi, một tướng của vua Đường Huyền Tông, có nhiều công lao đánh dẹp Thổ Phiên, được phong Phần Dương Quận vương nên có tên gọi thế.
2.Hán Thừa tướng: chỉ Gia Cát Lượng, thừa tường của Lưu Bị thời Tam quốc.
3.”Sát Thát”: Sát là giết chết. Thát là Thát Đát tức quân Mông Cổ.
4. Lục Hoa: tên một thế trận trong phép dùng binh của Lý Vệ Công đời Đường
5.Sách bí truyền: Chỉ sách Vạn Kiếp tông bí truyền thư  và Binh thư yếu lược
6.Bài hịch văn: tức bài Hịch tướng sĩ văn nổi tiếng của Trần Hưng Đạo.

3/10/2012
(18/8 âm lịch)
Đỗ Đình Tuân



Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Thơ tình của bạn thơ



Năm tháng đi qua

Năm đi qua, tháng đi qua
Muốn tìm người ấy đã xa lắm rồi
Thôi thì thôi thế thì thôi
Nhưng sao quên được cái thời ngày xưa
Cái thời lắm mộng nhiều mơ
Cái thời anh đợi anh chờ đón em
Chờ em gần trọn một đêm
Khiến cho cái giậu bìm bìm chạnh thương
Anh rơi vào cuối nỗi buồn
Em rơi vào chốn bán buôn tháng ngày.
                                  Phạm Văn Xanh
 

2/10/2012
Đỗ Đình Tuân

SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân