Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2011

ĐÊM TAN HÔN CỦA VUA QUANG TRUNG VỚI NGỌC HÂN

Lời dẫn của Lâm Khang chủ nhân:
Thưa chư vị, tôi cũng đã từng nhiều năm ngụp lặn trong kho sách Hán Nôm, cũng bận tâm tra cứu các thư tịch cổ về các chuyện "nguyệt hoa hoa nguyệt" đã nhiều phen, song chưa bao giờ có được may mắn như Tam Uyên Trần Quang Đức ở Nhã Nam. Trưa hôm qua, được Chuyết Chuyết Trần Trọng Dương phô rằng có cái này hay lắm, bèn đứng lại ở sảnh Hàn Lâm viện để truy vấn. Chuyết Chuyết kể câu chuyện – mà chư vị sẽ xem dưới đây. Tôi choáng quá!
Lúc ấy, trước mặt không có thư tịch, nên Chuyết Chuyết phải dùng cả đôi tay và cả toàn thân để mô tả những điều mà chàng định tả. Tôi càng choáng hơn!
Sáng nay, tại Thư khố Hán Nôm viện, bọn tôi gồm: Tam Uyển Trần Quang Đức, Chuyết Chuyết Trần Trọng Dương, U Cốc khách Tô Lan cùng nhau mở 3 văn bản chữ Nho để đối chiếu và xác minh xem Tam Uyển có vì vui chuyện mà tự thêu thùa thêm chữ nào không. Quả thực là đúng như bài của Tam Uyển, không hề có sai nhầm gì. Kíp khi ấy, Kim Anh nữ sĩ cũng có mặt, bèn được bọn tôi mời vào làm chứng!
Đêm tân hôn của Hoàng đế Quang Trung 33 tuổi, còn Ngọc Hân công chúa vừa 16 tuổi. Trời đất! Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên!
Vậy đã đủ chứng, mời chư vị thưởng thức áng văn chương “vô tiền khoáng hậu” này. Xin đa tạ Tam Uyển Trần Quang Đức đã ưng cho Nguyễn Xuân Diện-blog đưa về hầu chư vị bốn phương. Xin đa tạ Chuyết Chuyết Trần Trọng Dương đã có bài dịch ra thơ ngay trong trưa nay để kíp hầu chư vị.
Dưới đây là nguyên văn chép từ Trần Quang Đức-Blog:
Việt Nam đệ nhất dâm thi Tây Sơn hành
Tam Uyển Trần Quang Đức
Bữa trước trong lúc dư nhàn, mỗ có tìm đọc cuốn Tản Ông di cảo (散翁遺稿mang ký hiệu A.2157) của danh sĩ thời Lê là Trần Danh Án. Đọc đến bài Tây Sơn hành thì quả thật hãi hùng chi thậm. Ông này là tôi trung của nhà Lê, kiên quyết bất hợp tác với triều Tây Sơn, thủy chung coi Tây Sơn là giặc mọi, thậm chí tỏ thái độ thù hằn và phất uất khi vua Lê gả công chúa Ngọc Hân cho Quang Trung Nguyễn Huệ. Nay đọc Tây Sơn hành mới càng thấy rõ điều đó. Có điều, từ ý tứ đến ngôn từ trong bài thơ này đều hết sức dâm bôn xằng bậy, càng ngẫm càng thẹn cho kẻ mũ cao áo dài. Xét tự cổ chí kim, văn chương nước nhà chưa có áng dâm thi nào đặng so sánh được. Nay xin tạm phiên âm dịch nghĩa ra đây, rồi sau xin các bậc thiện Nôm chi quân tử cùng diễn ra thơ quốc âm vậy. (Bài thơ này còn được chép trong cuốn Thù thế danh thư 酬世名書 ký hiệu VHv.2239 và cuốn Danh nhân văn tập 名人文集 ký hiệu VHv.2432)
西山行
時阮整引西山阮惠兵來京城,景興皇帝以玉欣公主下嫁阮惠,故有此作.
海宇承平二百年,深宮春色鎖嬋娟,嫣紅錦褥人眼獨
淺翠花裀蝶夢纏,不是神仙無對偶,可堪芳景忽流連
紗窗寂寞梅酣雪,邃篽離披柳困煙,花事闌珊春已矣
殘英落絮總堪憐,鼕鼕何處城邊鼓,羯塵漫塞長安路
亟夏方旋振葉風,深春忽點催花雨,鬚眉無膽控危城
釵扇將身抵驕虜,天王姊婦上公妃,不比尋常花巷主
尊榮貴寵對天潢,奠聘奩儀優特數,雲水騶從翠綺羅
風流儐相紛紳冑,扇夫轎子儘非常,都人見者呼為父
人羡新郎如一口,妾見新郎墜雙手,衣裳熳爛語侏离
骨相崚嶒皮皺古,頂上高堆張角巾,腿間不著韓信褲
其中一物望巍然,直與四肢峙為五,靜似高僧兀坐忘
動如弁子歌身舞,不言不笑不溫存,大吼一聲烈如虎
千鈞飛蹲據酥胸,怒裂羅裙披雪股,此物誰知解刺人
頡頏插入溫柔戶,嬌花枝上狂鶯揉,狂鶯不為嬌花護
花膜重重裂繒聲,鉛爐片片飛煙縷,牙咬肉顫汗如油
亂搗胡抽做不住,須臾裙帶落新紅,暗點春籌翻幾度
妾身兩孔似連環,瞬息通成一大圈,捲襦點閱忽驚訝
頏摩不值半文錢,黑暗既非前度白,縈紆又改舊時圓
呼鬟拿甕尿一尿,尿水之聲如飛泉,飛泉瀲灧去不返
陽風打落桃花片,桃花嬌怯不勝風,風斂花魂猶覺倦
盈盈柳骨瘦三分,褶褶湘羅寬一半,底事雖然不殺人
暮雨朝雲安熟爛,自從奇苦得奇歡,歡後卻忘舊苦艱
不患漁翁揮棹澀,溶溶桃浪漲平灘,左掬右摸探花髓
鶯不停梭蹀不攔,玉癢香搔失害羞,上摟下扭圓團團
風情蕩漾花心急,恐放東君頃刻間,蠻人老實多高興
不會輕挑只會鑽,浮世青雲如過客,一生幾度托春眠
衾裯樂處無夷夏,痴徇空名誤玉顔,不見錦機脂粉隊
西兵去後幾人還,誰將此為語姊妹,嫁郎及早嫁西山
Phiên âm
TÂY SƠN HÀNH
Thời, Nguyễn Chỉnh dẫn Tây Sơn Nguyễn Huệ binh lai Kinh thành, Cảnh Hưng hoàng đế dĩ Ngọc Hân công chúa hạ giá Nguyễn Huệ, cố hữu thử tác.
Hải vũ thừa bình nhị bách niên, Thâm cung xuân sắc tỏa thuyền quyên
Yên hồng cẩm nhục nhân nhãn độc, Thiển thúy hoa nhân điệp mộng triền
Bất thị thần tiên vô đối ngẫu, Khả kham phương cảnh hốt lưu liên
Sa song tịch mịch mai hàm tuyết, Thúy ngự ly phi liễu khốn yên
Hoa sự lan san xuân dĩ hĩ, Tàn anh lạc nhứ tổng kham liên
Đông đông hà xứ thành biên cổ, Yết trần mạn tắc Trường An lộ
Cức hạ phương toàn chấn diệp phong, Thâm xuân hốt điểm thôi hoa vũ
Tu my vô đảm khống nguy thành, Thoa phiến tương thân để kiêu lỗ
Thiên vương tỉ phụ thượng công phi, Bất tỉ tầm thường hoa lộng chủ
Tôn vinh quý sủng đối thiên hoàng, Điện sính liêm nghi ưu đặc số
Vân thủy sô tùng thúy ỷ la, Phong lưu tấn tướng phân thân trụ
Phiến phu kiệu tử tận phi thường, Đô nhân kiến giả hô vi phụ
Nhân tiện tân lang như nhất khẩu, Thiếp kiến tân lãng trụy song thủ
Y thường mạn lạn ngữ thù ly, Cốt tướng lăng tằng bì trứu cổ
Đính thượng cao đôi Trương Giác cân, Thoái gian bất trước Hàn Tín khố
Kỳ trung nhất vật vọng nguy nhiên, Trực dữ tứ chi trì vi ngũ
Tĩnh tự cao tăng ngột tọa vong, Động như biền tử ca thân vũ
Bất ngôn bất tiếu bất ôn tồn, Đại hống nhất thanh liệt như hổ
Thiên quân phi tồn cứ tô hung, Nộ liệt la quần phi tuyết cổ
Thử vật thùy tri giải thích nhân, Hiệt hàng sáp nhập ôn nhu hộ
Kiều hoa chi thượng cuồng oanh nhu, Cuồng oanh bất vi kiều hoa hộ
Hoa mạc trùng trùng liệt tăng thanh, Diên lô phiến phiến phi yên lữ
Nha giảo nhục chiên hãn như du, Loạn đảo hồ trừu tố bất trụ
Tu du quần đới lạc tân hồng, Ám điểm xuân trù phiên kỉ độ
Thiếp thân lưỡng khổng tự liên hoàn, Thuấn tức thông thành nhất đại khuyên
Quyển nhu điểm duyệt hốt kinh ngạc, Hàng ma bất trị bán văn tiền
Hắc ám ký phi tiền độ bạch, Oanh vu hựu cải cựu thời viên
Hô hoàn nã úng niệu nhất niệu, Niệu thủy chi thanh như phi tuyền
Phi tuyền liễm diễm khứ bất phản, Dương phong đả lạc đào hoa phiến
Đào hoa kiều khiếp bất thắng phong, Phong liễm hoa hồn do giác quyện
Doanh doanh liễu cốt sấu tam phân, Triệp triệp tương la khoan nhất bán
Để sự tuy nhiên bất sát nhân, Mộ vũ triều vân an thục lạn
Tự tòng kì khổ đắc kì hoan, Hoan hậu khước vong cựu khổ gian
Bất hoạn ngư ông huy điệu sáp, Dung dung đào lãng trướng bình than
Tả cúc hữu mô thám hoa tủy, Oanh bất đình thoa điệp bất lan
Ngọc dạng hương tao thất hại tu, Thượng lâu hạ nữu viên đoàn đoàn
Phong tình đãng dạng hoa tâm cấp, Khủng phóng đông quân khoảnh khắc gian
Man nhân lão thực đa cao hứng, Bất hội khinh thiểu chỉ hội toàn
Phù thế thanh vân như quá khách, Nhất sinh kỉ độ thác xuân miên
Khâm trù lạc xứ vô di hạ, Si tuẫn không danh ngộ ngọc nhan
Bất kiến cẩm cơ chi phấn đội, Tây binh khứ hậu kỷ nhân hoàn
Thùy tương thử vị ngữ tỉ muội, Giá lang cập tảo giá Tây Sơn.
Dịch nghĩa:
TÂY SƠN HÀNH
Bấy giờ, Nguyễn Hữu Chỉnh dẫn quân Tây Sơn Nguyễn Huệ tới Kinh thành, Hoàng đế Cảnh Hưng gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ, cho nên có bài thơ này.
Bờ cõi thanh bình đã hai trăm năm
Ở nơi thâm cung xuân sắc, người đẹp bị khóa chặt
Cô đơn nằm trên nệm gấm hồng tươi
Say giấc mộng bướm dưới lớp áo hoa biêng biếc
Không phải là thần tiên không có người sánh đôi
Mà cám cảnh thơ ngây bỗng vương lòng lưu luyến
Song the hiu quạnh, bông mai đượm tuyết
Vườn uyển sâu thẳm, liễu ám khói sương
Mùa hoa đi qua, xuân cũng đã hết
Cánh hoa tàn, tơ mành buông, thật là đáng thương
Tùng Tùng! Đâu đó vang lên tiếng trống ven thành
Lũ rợ Kiệt đến, bụi mù khắp Tràng An
Chưa cuối hè mà đã có gió lay lá
Đương xuân chín mà bỗng lác đác giọt mưa bứt hoa.
Đấng mày râu không có gan giữ được cung thành
Để bực quần thoa phải gán thân cho giặc mạnh
Con gái Thiên vương phải làm phi cho Thượng Công
Nào phải bậc chúa hoa tầm thường.
Để tỏ lòng tôn vinh đối với hoàng tộc
Sính lễ cùng nghi thức hết sức đặc biệt
Ngựa xe như mây nước, tùy tòng mặc toàn gấm vóc
Đám phù rể phong lưu, áo mũ xênh xang.
Bọn phu quạt, phu khiêng kiệu đều lạ lùng
Người kinh đô thấy đều gọi là ‘cha’
Ai cũng hâm mộ chú rể
Còn cô dâu trông thấy chàng rể thì buông đôi tay.
Quần áo thì sặc sỡ diêm dúa, giọng nói thì trọ trẹ
Dáng dấp ngang tàng, da dẻ nhăn nhúm
Trên đầu chất cao cái khăn của Trương Giác
Giữa chân không mặc cái quần của Hàn Tín
Ở bên trong, một vật trông rất nguy nga
Cùng với tứ chi, sừng sững thành năm ngọn
Lúc tĩnh lặng, giống như cao tăng nhập tọa
Lúc động đậy, tựa như võ biền vừa hát vừa múa
Chẳng nói chẳng cười chẳng từ tốn
Gầm lớn một tiếng, mãnh liệt như hổ
Nghìn cân sà xuống, chồm hỗm chiếm bộ ngực như bơ
Tức tối xé rách chiếc váy là đang che cặp đùi tựa tuyết
Vật này ai cũng biết là có thể đâm người
Ngúc ngoắc rồi chọc vào cánh cửa êm ấm
Bông hoa kiều diễm trên cành bị oanh khùng giày vò
Con oanh khùng không hề giữ gìn bông hoa kiều diễm
Lớp lớp màng hoa, tiếng xé vải
Mảnh mảnh lò chì bốc lên những ngọn khói
Răng nghiến, xác thịt rung, mồ hôi như dầu
Nện bừa, rút quấy, làm không dừng
Phút chốc, giọt hồng trinh rớt trên dải váy
Âm thầm mấy độ xuân qua
Trên thân thiếp hai lỗ tựa vòng khâu
Trong nháy mắt thông thống thành một hốc lớn
Vén áo lót kiểm tra bỗng kinh ngạc
Bị sờ bóp không đáng giá nửa xu
Thâm tím, không còn màu trắng xưa kia
Méo mó, khác rồi khối tròn thưở trước
Gọi a hoàn bưng chậu nước đi tiểu một cái
Tiếng nước tiểu như dòng thác tuôn
Dòng thác sóng sánh một đi không trở lại
Ngọn gió thổi rụng cánh hoa đào
Hoa đào kiều diễm, khiếp sợ, không chịu nổi gió
Gió ngớt, hồn hoa còn thấy mệt lả
Vóc liễu gày đi ba phần
Áo lụa gấp rộng một nửa
Việc này tuy không đến nỗi chết người
Nhưng cứ sớm mây chiều mưa sao lại không nát bét chứ
Từ khi chịu cái khổ lạ lùng lại được cái sướng lạ lùng
Sau khi sướng lại quên hết nỗi gian khổ ngày xưa
Chẳng lo ông chài khua chèo bị rít
Sóng đào bát ngát dâng ngập bờ cát phẳng
Vốc bên trái, sờ bên phải, thăm dò nhị hoa
Con oanh chẳng ngừng luồn, con bướm chẳng ngăn cản
Ngọc ngứa, hương gãi, không còn thẹn thùng
Trên ôm, dưới siết, cuộn lại tròn vo
Cuộc phong tình tràn ngập, lòng hoa bướm háo hức
Chỉ sợ rời ‘chúa hoa’ trong khoảnh khắc.
Kẻ man di thật thà, rất nhiều khi lên cơn hứng
Chỉ biết đâm dùi, chứ không biết nhẹ nhàng ve vuốt
Cảnh đời mây nổi, tựa như khách qua đường
Cả đời được mấy lúc hưởng trọn giấc xuân
Thú chăn gối không phân biệt người Kinh, người rợ
Si ngây chuốc lấy danh hão, người ngọc lỡ lầm
Không thấy đám phấn son ở Cẩm Cơ sao
Sau khi quân Tây Sơn đi, có mấy thằng quay lại?
Ai nấy hãy đem việc này nói rõ với chị em:
Lấy chồng thì cứ sớm lấy bọn Tây Sơn ấy.
Dưới đây là bản dịch thơ của Chuyết Chuyết Trần Trọng Dương:
Cõi thanh bình hai trăm năm lẻ
Chốn thâm cung khóa trẻ đương tơ
Gấm tươi phô nét hững hờ
Áo hoa biêng biếc, bơ thờ[1] giấc xuân
Khách thần tiên chưa lần sánh mộng
Lòng thơ ngây chợt động tơ vương
Song mai tuyết đọng chán chường
Vườn hoa thăm thẳm khói sương liễu bồ
Hoa đã rụng xuân hồ cũng hết
Xác còn buông mấy nét tơ sương
Thoắt thôi trống động biên cương
Bao nhiêu rợ mọi ngập đường Tràng An
Buổi cuối mùa gió man lay lá
Đương xuân hồng mưa rã nhị hoa
Mày râu trốn hết đâu mà?
Để cho má phấn phải ra gán mình
Thân công chúa thình lình thiếp giặc
Thân ấy đâu phải bậc tầm thường
Hoàng cung quốc sắc thiên hương
Thì thôi sắm lễ tiện đường rước đi
Xe như nước ngựa phi giăng gấm
Phù rể trông cũng thậm xênh xang
Lạ lùng tôi tớ khiêng sang
Lê dân Kẻ Chợ bàng hoàng xuýt xoa
Hâm mộ ngắm chàng ta rể quý
Nàng Ngọc Hân gạt lệ xuôi tay
Người đâu trọ trẹ thế này
Da thời nhăn nhúm, dáng rày[2] ngông nghênh
Khăn với áo xông xênh diêm dúa
Giữa hai chân không khố lão Hàn
Bên trong một vật hiên ngang
Ngũ chi sừng sững như đang thượng tòa
Khi lúc lắc tựa là nhảy múa
Chẳng nói năng sấn sổ xông ra
Cọp gầm hùng hổ chu choa
Nghìn cân sà xuống một tòa thiên nhiên
Xé toạc váy giở miền ngà ngọc
Vật này ôi đã xọc thân hoa
Xăm xoi ngúc ngoắc vào ra
Oanh khùng khục tiếng, hoa dà dà son
Ôi giày xéo hoa don vật vã
Nhụy non tơ rách tã còn đâu
Hơi hùm bốc khói trên đầu
Thịt rung răng nghiến như dầu bôi thân
Chọc bừa đâm quấy tần vần
Giọt hồng cứ giỏ mấy lần nếp voan
Âm thầm bấy, mầu xoan vuột mất
Nhụy thuở nào e ấp xinh xinh
Thoắt thôi hoang hoác thân[3] mình
Nhìn xem xiêm áo thất kinh rụng rời
Thân vàng ngọc đáng thời nửa cắc
Màu trinh nguyên đã mất vẻ xưa
Ngực non méo mó dật dờ
Buồn cơn đổ xuống một bờ thác tuôn
Thác đã tuôn cũng khôn níu lại
Cánh hoa đào gió tãi nào vun
E rằng gió giật chăng dừng
Hồn hoa mệt bã vô chừng bấy hoa
Thân liễu yếu ngót ba phần đủ
Xiêm y thay, thít chửa vừa thân
Mây mưa đã giãi phong trần
Tuy chăng mất mạng, cũng dần nát tan
Càng đau lạ lại càng sướng lạ
Sướng này thôi cũng hả đau kia
Chèo khua chẳng ngại gẫy chìa
Sóng đào bát ngát dâng kìa bãi xa
Đôi trái cấm xuýt xoa kia nọ
Oanh chăng ngừng, bướm tỏ nguồn yêu
Ngọc ngà ngứa ngáy hương phiêu
Trên ôm dưới siết còn đâu thẹn thùng
Cuộc phong tình bướm hoa háo hức
Chẳng nỡ rời một lúc một giây
Vũ phu hứng động dâng đầy
Vuốt ve chẳng đoái, cuốc cầy quen chân
Cảnh mây nổi một thân làm khách
Khách qua đường chớ trách mộng xuân
Gối chăn đâu cũng xoay vần
Danh suông để hão, trong ngần vấy nhơ
Đám phấn son Cẩm Cơ chửa đủ
Gã Tây Sơn liệu có quay về
Việc này nói tỏ cho nghe :
Lấy chồng cứ lấy chẳng nề quân Tây !


[1] Bơ thờ (từ cổ): uể oải, lười.
[2] Rày: nay
[3] Theo nguyên bản nên dịch là “cửa”, nhưng nay đổi chữ cho nó đỡ dữ.
*
Phụ chép: Tiểu sử của Trần Danh Án – tác giả của bài Tây Sơn hành:
Trần Danh Án (1755 – 1794), người xã Bảo Triện huyện Gia Định – nay là thôn Bảo Triện, xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Cháu Trần Phụ Dực, con Trần Danh Lâm.
Thi Hương đỗ Giải nguyên. Thi Hội đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống 1 (1787) đời Lê Mẫn Đế.
Làm quan đời Lê Chiêu Thống đến chức Viên ngoại lang, hành Chiếu khám. Khi Lê Chiêu Thống chạy lên vùng Bắc Giang, ông đang giữ chức Nội hàn, đi theo làm tùy tùng. Chiêu Thống chạy sang nhà Thanh, ông ở lại quê nhàm cùng Trần Quang Chân, Dương Đình Tuấn dấy binh chống triều Tây Sơn. Khi nghe tin Chiêu Thống chết ở Trung Quốc, ông gào khóc thương tiếc rồi mất.
Nguồn: Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919. Ngô Đức Thọ chủ biên. Nxb. Văn học, Hà Nội, 2006. trang 645.
Nguyễn Xuân Diện



Thứ Tư, 5 tháng 1, 2011

Cảm tưởng đọc DoDinhTuan’s bloge

Cá vàng bơi lượn nhởn nhơ,
 Qua Bloc anh, thấy tình thơ dạt dào.
Đọc xong vội ngả mũ chào,
Rằng con người ấy ...ôi chao …đa tình.

                                                                        Ngô Như Sâm

Thứ Ba, 4 tháng 1, 2011

TUỔI BẠC...



Tuổi cao thôi đã rõ mười mươi
Má hóp răng thưa miệng móm rồi
Riêng cái phong tình luôn phấp phới
Chung miền thi tứ vẫn tươi tươi
Nhân gian biến đổi còn thao thiết
Thiên địa vần xoay luống rối bời
Tuổi bạc nhưng lòng son chẳng bạc
Rượu ngang thịt chó đáng dâng mời.
                              4/1/2011
                       Vũ Thị Son g Thu

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2011

TRẢ LỜI CÂU THƠ QUA ĐIỆN THOẠI

                                                        




thày đâu có được thảnh thơi
suốt ngày rửa bát, cạo nồi... đó nghe
chọn vần, tìm chữ chắp vè
tìm câu, tìm ý kết bè văn xuôi.
                          3/1/2011
                          thày tuân

CÂU THƠ QUA ĐIỆN THOẠI



Bây giờ em cũng như thày
Cũng thường dân phó suốt ngày thảnh thơi.
                                             3/1/2011
                                        Nguyễn Tô Hà









CẢM NGHĨ ĐẦU NĂM 2011

tri ân như cái sân đình
thày trò bầu bạn xúm quanh quây quần
đâu còn núi cách sông ngăn
buồn vui ta lại chắp vần nối câu
khi không bỗng hóa sang giầu
cám ơn cái mạng toàn cầu in tơ.
                              3/1/2011
                            đỗ đình tuân

LAN MAN CHUYỆN LÀNG TÔI (4)


                                               Thuyền mủng
                                   
Người làng tôi chuyên đẩy thuyền bằng sào. Không dùng mái chèo như người làng Chí Linh gần sông lớn. Có lẽ vì nước nông, sông tĩnh. Cái thuyền mủng nào cũng phải có một cây sào, làm bằng một cây tre hóp đá dài độ ba, bốn mét. Cây sào này vừa là “động cơ” lại vừa là “bánh lái”. Khi chở thuyền, người ta đứng trên sạp lái, dùng hai tay nhịp nhàng kéo sào lên. Khi chân sào đã khỏi mặt nước, thì lại nhấc đứng cây sào dậy mà cắm xuống một điểm ngay dưới đít thuyền. Lại dùng hai tay lần sào mà đẩy thuyền đi. Khi bàn tay đã lần đến điểm mút đầu sào thì nhún mạnh thêm một cái nữa. Con thuyền sẽ dồ sóng mà lao về phía trước. Người đẩy thuyền thạo, thường biết kết hợp các động tác “cắm”, “đẩy”, “nhún” với “lái” vào làm một. Cho nên trông họ thường nhàn nhã, khoan thai mà con thuyền cứ đi theo “sự lãnh đạo” của họ.  Bởi ngay từ động tác “cắm  sào” người ta cũng đã có ý “lái” rồi. Rồi động tác “đẩy”, động tác “nhún” đều lồng ý “lái” vào trong ấy cả. Cho nên con thuyền đi tự do mà ngoan ngoãn. Ngược lại  người lái thuyền tồi, chưa biết lái thuyền thì chỉ biết “cắm ” là “cắm”, “đẩy” là “đẩy”, “nhún” là “nhún”… chứ không biết kết hợp và lồng cái ý “lái” vào. Cho nên họ cắm được cắm hỏng. Có khi cắm đứng sào quá, chặt chân sào quá, không đẩy đi được nữa. Thế là cái sào đẩy thuyền lại thành ra cái cọc buộc con thuyền lại. Nếu họ cũng lại cứ đẩy, cứ nhún nữa thì sào sẽ đi đằng sào, thuyền sẽ đi đằng thuyền… Con thuyền sẽ mất phương hướng, quay lô lô giữa dòng, vùng vằng không chịu đi cho. Nhiều khi “người cầm lái” còn ngã ùm cả xuống sông nữa kia.
Nhưng thuyền mủng ở làng tôi cũng ít được dùng vào công việc chính của làng là làm ruộng. Vì vụ gặt chiêm, làm mùa thì nước chưa to mà đến vụ gặt mùa thì nước lại cũng đã cạn rồi. Chỉ có những gia đình có ruộng ở Đồng Chiêm, Đồng Dành, giáp ngọn con sông Đào, người ta mới dùng thuyền chở lúa về làng. Còn đa phần vẫn gánh bộ, không lích kích phải bốc lên xếp xuống. Rụng lúa. Rốt cục thuyền mủng chủ yếu chỉ để cho bọn trẻ con chúng tôi đi đưa cơm cho thợ cày ở những cánh đồng xa, hoặc bồng bềnh đẩy xuống mé sông Gốm, đồng Gốm để kiếm rau lợn. Bởi ở đồng Gốm có một thứ rong  dùng nấu cám rất sánh và lợn rất hay ăn. Làng tôi gọi cây rong đó là cây “rau vậy”, nhưng cũng có làng lại gọi nó là cây rong “ áo tơi”. Đồng làng Gốm thấp hơn cánh “đồng dưới” làng tôi một cấp, nên nước cũng ngập sâu hơn một cấp. Độ ba bốn mươi phân gì đấy. Những buổi trưa hay chiều mùa hè, nắng chói chang, nước đồng trong văn vắt. Chúng tôi cứ cho thuyền lượn lờ đi trên đồng, quan sát dưới đáy ruộng. Hễ thấy khu vực nào có cây rau vậy to và dày thì mới cắm sào đỗ thuyền lại. Những cây rau vậy to trông nó rườm rà như một cái nơm để ngửa. Những con cá “xí cờ” thập thò bơi  quanh hóng mát. Cũng có khi là mấy chú cá “lầm đất”, nghe tiếng động thuyền thì rối rít chúi chạy, loáng nhoáng hiện những cái thân, cái bụng lấp lánh trắng ở dưới gốc. Chúng tôi phải lột áo, tụt quần, vứt ở trên sạp lái. Lội xuống. Ngụp. Dùng tay cầm tận sát gốc cây rau vậy. Nhổ. Rũ cho sạch đất bùn bám ở rễ, rồi xếp chúng vào thuyền. Đủ định lượng thì chúng tôi lại bồng bềnh đẩy thuyền về cập bến làng Riêng.
Nhưng người lớn làng tôi chuẩn bị thuyền là nhằm những mục đích quan trọng hơn nhiều. Đó là cái phao cứu sinh cho cả một gia đình. Bởi vì ở vùng tôi, cái thảm họa nước to, do mưa lớn hay vỡ bối, vỡ đê luôn là một khả năng treo lơ lửng ở trên đầu. Cho nên nhà giầu nào cũng thường xây một gian kho có nền rất cao như nhà Cụ Hậu, nhà ông Ký Đính, nhà ông Lý Tịnh…Ít ra thì cũng chuẩn bị sẵn cây que bắc lấy một gian gác để nếu gặp “tình trạng khẩn cấp” thì để thóc lúa lên gian gác ấy. Nhưng để chạy người thì vẫn phải có một con thuyền mủng. Ngày còn rất bé, tôi láng máng nhớ có một lần chạy nước to như thế. Ngày ấy tôi hãy còn mẹ. Nghe người làng kêu “Ới làng nước ơi, vỡ bối rồi!”. Tôi thấy mẹ tôi cuống quýt dựng tôi dậy. Bà đặt tôi đứng trên cái phản ở giữa nhà, vào buồng vơ lấy cái áo mặc thêm cho tôi. Vừa mới đóng xong mấy cái cúc thì nước đã ngập đến hè, rồi ngập vào nền nhà. Mãi đến khi nước gần lên đến chỗ chân tôi đứng thì bố tôi mới kéo đến một con thuyền mủng. Mẹ tôi bế tôi lên thuyền và cả nhà chạy lên Bãi Đá. Mấy ngày sau, bố cho tôi về thăm nhà, tôi thấy nước ngập đến tận giọt gianh. Sóng cứ vỗ dập dềnh liếm vào mái rạ. Căn nhà chỉ còn như một cái nón vuông kéo dài nằm úp trên mặt nước.
Sau trận càn đầu tiên của giặc Pháp, làng tôi bị đốt hầu hết nhà cửa. Nhà tôi cũng bị đốt hết cả: gồm năm gian nhà gỗ xoan kẻ truyền, chồng chóp; gian bếp rồi tiếp đến là ba gian nhà ngang làm nhà ăn và để cối xay, cối giã; khu chuồng trâu, chuồng lợn… Người làng tôi hốt hoảng mà không biết chạy đâu. Họ bèn dắt díu nhau bỏ làng chạy lên ngọn con sông Đào. Mỗi nhà đào một cái “Tăng xê” trên bờ con sông Đào, úp thuyền lên trên làm mái che. Cửa hướng ra sông Đào thì tạm che bằng phên nứa, phên gianh; vừa làm hầm trú ẩn lại vừa làm nhà ở. Bờ sông Đào bỗng thành một dãy “phố tăng xê”, nối liền nhau như “mủng úp”. Ban ngày người lớn đi làm gì ở đâu tôi không biết. Bố mẹ tôi gửi tôi ở nhà chơi với những anh những chị lớn hơn bên “hàng phố”. Tôi thường cũng ấm ích, phụng phịu một lúc. Nhưng khi bố mẹ đã đi rồi thì chẳng còn “làm nũng” với ai được nữa. Thế là tôi lại tha thẩn chơi, đào lỗ cóc, móc lỗ kiền ở trên bờ con sông Đào. Duy nhất tôi thấy có một bà cô của tôi, lúc ấy đã có ba con và góa chồng, đang có một ông bạn người làng dưới, cũng góa vợ lên “tìm hiểu” là ở nhà với nhau thôi. Họ thường khép kín cửa, thì thầm to nhỏ với nhau trong tăng xê. Sự lạ ấy gợi trí tò mò của bọn trẻ con chúng tôi. Mấy anh lớn rất hay rủ bọn chúng tôi đến xem trộm. Tôi sợ, chỉ dám đứng ở đằng xa. Còn các anh lớn thì cúi người đi rón rén vào gần tận cửa. Người thì dán mắt vào khe cửa: dòm. Người thì dán tai vào phên liếp: nghe. Một lát lại thấy cười rúc rich. Có tiếng người đàn ông hỏi to: “Đứa nào, Làm gì ngoài đấy?”. Thế là các anh ấy cười ré lên chạy ra. Một anh vừa cười vừa kể bằng cái giọng vừa lắp, vừa ngọng của anh ấy: “Yì..ình…yì..ình …ình…ừ..ừng… ! Yì…ình…yì…ình ở…ở ại ới eng  ơ…! Ệ…ệ …y…úng…úng  ó !”…
Nhưng ở giữa cánh đồng không mông quạnh, chẳng có tre pheo gì che chắn, lại nằm dưới lòng đất ẩm lạnh, trẻ con người già không chịu được. Thế là thấy yên yên, người làng tôi lại trở về làng. Nhà tôi với nhà chú Đặng tôi, dựng tạm trên nền nhà ngang nhà tôi, hai gian nhà nhỏ ở. Nhà tôi ở một gian, nhà chú Đặng ở một gian. Một thời gian sau, chú Đặng làm xong ba gian nhà ngang dưới gốc thị thì chú thím về nhà mới. Nhà tôi ở cả hai gian. Bố tôi cắt vách, mở cửa nách và ngăn một gian ra làm buồng. Còn gian ngoài có cửa trước ra sân và cửa sau đi xuống bếp. Bếp chỉ là một gian bán mái con con, gác ở đằng sau nhà. Lúc này thì bệnh của mẹ tôi đã bắt đầu nặng. Sau lần sinh đứa em gái sau tôi-Bé Tạo-mẹ tôi bị “hậu sản”. Người cứ sốt, cứ gầy rạc đi, hết thuốc ông lang này, lại đến thuốc ông lang khác mà vẫn không khỏi. Mẹ tôi ốm, không đủ sữa nuôi con nên bé Tạo cũng bị “suy dinh dưỡng” nặng. Nó quấy nhèo nhẹo như cái dẻ vắt vai. Da vàng bủng. Đít dúm . Mà chân tay thì cong vẹo, nhăn nheo và bé tẹo. Bố tôi phải thuê một bà người bên làng Ngô Đồng sang ở vú phụ nuôi bé Tạo mà cũng chẳng ăn thua. Bệnh mẹ tôi thì càng ngày càng nặng. Người trông chỉ còn da bọc xương. Đầu cạo trọc. Trên gương mặt bà chỉ còn thấy có đôi mắt là to hơn cả.
Một buổi trưa đầu hè nắng gắt. Bố tôi đang làm rạ lợp nhà ở ngoài sân. Trong nhà, cô Lý Tường  sang thăm, vẫn ngồi trên giường nói chuyện với mẹ tôi. Đang giang giang câu chuyện thì bỗng cô Lý Tường gọi giật giọng “Bác ơi ! Bác ơi ! Bác làm sao thế ?”.  Nghe tiếng gọi khác lạ, bố tôi vội hớt hải chạy vào. Cô Oanh bên hàng xóm cũng vội chạy sang. Chỉ một loáng sau, người đã đến chật nhà. Còn tôi, trước đấy vẫn tha thẩn chơi trong nhà, nhưng lúc này tôi lại đến nằm phục phị bên đầu giường mẹ. Tôi vẫn chưa có cảm giác rằng mẹ tôi đã chết, nên cứ chằm chằm nhìn vào mặt mẹ. Quả nhiên, mẹ tôi lại mở mắt ra thật. Mở rất to, nhìn tôi một lúc lâu, dưới hố mắt ứa ra một giọt lệ rồi mới thấy từ từ khép lại…Chắc mẹ tôi thương tôi lắm, nên đã ra đi rồi, mà vẫn không đành lòng, còn nán lại nhìn tôi. Sau này nghe bố tôi kể lại, những ngày sắp mất, mẹ tôi cứ dặn đi dặn lại bố tôi hai điều: Một là anh phải gắng nuôi con cho nó thành người; hai là tôi còn bố già, anh phải gửi sang đấy cho tôi một con nghé đực, nhờ bác cả nuôi hộ. Khi nào ông cụ mất, thì dùng con trâu ấy lo việc ma cho ông cụ. Xem như đó là phần đóng góp của tôi.
Chỉ độ một giờ sau thì đằng ngoại bên Ninh Xá nhà tôi sang. Họ sang rất đông. Họ vừa vào đến nhà thì tiếng khóc cũng váng lên ngay. Nhất là mấy cô cháu gái thì khóc rất to và thảm thiết lắm.  “Ới cô ơi !...Cô đi đâu mà cô bỏ chồng, bỏ con thế cô ơi ?..”, “Ới cô ơi !...Con cô còn bé dại thế kia, mà cô nỡ bỏ cho ai nuôi… cô ơi ?…”. Những tiếng khóc ấy làm tôi không chịu nổi. Tôi vội chạy ra đằng sau nhà, gục đầu vào tường thổn thức khóc một mình. Mãi đến tối, dì Thiều tôi mới tìm tôi về dỗ dành cho ăn, cho uống và tôi ngủ lúc nào cũng không biết nữa. Sáng hôm sau, bố tôi mặc cho tôi bộ quần áo sô, đội mũ rơm  rồi vừa dắt, vừa bảo tôi mũ gậy đưa mẹ ra đồng. Ít ngày sau thì bé Tạo cũng mất. Hôm đám tang mẹ tôi, tôi không thấy bố tôi khóc. Nhưng đến tối hôm bé Tạo mất, tôi lại thấy bố tôi khóc dữ lắm: “Ới con ơi... bây giờ thì ai cho con ăn, ai ru con ngủ ..con ơi…”, “ Ới em ơi… sao em lại bỏ tôi gà sống nuôi con một mình, em ơi…”,  “Ới giời ơi …thân tôi có tội tình gì mà giời bắt tội tôi thế này, giời ơi…” Giữa đêm khuya thanh vắng, nghe tiếng một người đàn ông khóc vợ, khóc con và tủi phận mình mới não nuột làm sao. Tôi nằm trong lòng cụ Ứng, nghe bố tôi khóc thế, cũng không cầm lòng được, cứ nức nở rung hết cả người lên. Chắc cụ Ứng cũng nghẹn ngào không nói được. Cụ chỉ ôm ghì tôi thật chặt và an ủi tôi bằng những cái vỗ tay đều đều đằng sau lưng.
Sau đó là những ngày mà tuổi thơ tôi đã phải sống rất bơ vơ. Giặc đốt hết nhà cửa, vợ ốm đau dài ngày, rồi người chết, của hết… Bố tôi rơi vào hoàn cảnh hoàn toàn trắng tay. Ông cụ phải chạy chợ lần hồi kiếm ăn từng  bữa. Hôm nào cũng thế, cứ độ ba-bốn giờ sáng là ông cụ đã trở dây, nổi lửa nấu cơm. Ông cụ nắm làm hai nắm: một nắm to ông cụ mang đi ăn đường và một nắm con phần tôi ở nhà ăn bữa trưa. Ông cụ thường mua muối ở chợ Phả Lại đem vào chợ Bến Tắm bán, rồi lại mua chè tươi và các hàng lâm sản ở chợ Bến Tắm đem về bán ở chợ Phả lại. Những hôm có phiên chợ Bến Tắm thì ông cụ phải đi sớm lắm. Tôi phải ở nhà một mình ngay từ lúc trời còn chưa sáng. Đầu tiên cũng sợ, sau quen dần. Tôi cứ lủi thủi một mình ngồi ở đầu hè bạn với vầng trăng gà gáy cũng lạnh lẽo, cô đơn một mình giữa bầu trời đã vãn hết sao. Cho đến đến tận bây giờ, cứ mỗi lần gặp lại vầng trăng gà gáy là tôi lại nhớ lại cái đoạn đời ấu thơ côi cút này.
Nhưng cũng có một lần, đang đêm tôi thức dậy, thấy ánh lửa chập chờn, tôi nghĩ là bố tôi đang nấu cơm ở dưới bếp như mọi đêm. Tôi gọi “Bố ơi,…bố!”. Nhưng không có tiếng bố tôi trả lời. Tôi bèn trở dậy chạy xuống bếp. Cũng không thấy bố tôi đâu. Mà quay ra thì thấy phía giữa làng lửa cháy rừng rực, tiếng nổ đôm đốp, tro than bắn lên tung tóe cả. Tôi hoảng quá, khóc toáng lên, chạy ra sân, gào bố ầm ĩ. Vẫn không thấy bố tôi đâu cả. Mà lửa cháy thì càng to và tiếng nổ lại càng dữ. Nhưng xóm làng thì vắng lặng, hoàn toàn không thấy có tiếng người. Một thứ vắng lạnh nghe ghê ghê rờn rợn. Tôi càng hoảng sợ, cứ vừa khóc vừa gọi, vừa cuống quýt chạy quanh tìm bố. Rồi tôi nghe thấy tiếng một người phụ nữ se sẽ gọi “Tuân ơi Tuân, ra đây chị bế”. Nhưng trong cơn hoảng loạn, tôi không xác định được tiếng gọi ấy phát ra từ hướng nào. Nên tôi lại cuống quýt chạy ra cổng. Người phụ nữ vội vàng chạy vụt ra, ôm chặt lấy tôi. Chị bịt mồm tôi lại và nói sẽ vào tai tôi “Tây đấy! để chị bế đi trốn!”. Bây giờ thì tôi nhận ra đó là chị Khuông, con cô Cả Luyến. Tôi im bặt ngay và ôm chầm lấy chị. Chị  bế tôi  đi lẻn phía vườn sau, sang góc cái bếp con, làm cạnh một cái điện thờ Thần đất bên nhà chú Đặng tôi ngồi ẩn. Cô Cả Luyến ôm chị Khuông, chị Khuông lại ôm tôi. Ba người ngồi chết dí trong xó bếp, trốn giặc.
Cả Luyến chỉ là tên chồng, còn tên thật của cô là gì thì cho đến nay tôi cũng chưa biết. Lúc này cô đã già, lưng đã còng và hai mắt thì mờ tịt. Giữa ban ngày ban mặt, nhưng đi lại cô vẫn phải đưa chân chậm chạp ra phía trước dò dẫm và đưa tay ra trước mặt sờ soạng. Cô chưa làm lại được nhà, đang ở nhờ nhà chú Đặng tôi. Vì có quan hệ họ hàng gì đó nên tôi mới chỉ gọi là “cô” chứ không gọi là “bà” như với những người dưng khác ở trong làng. Sau này đọc “Đỗ tộc gia phả” tôi mới biết, bác Lý Tín nhà tôi có một người cô ruột (chị bố) lấy chồng về Bắc (Từ Sơn, Bắc Ninh: nơi phát tích của họ nhà tôi) đẻ ra cô. Cô cũng đã lấy một đời chồng ở trên Bắc rồi. Sinh được một người con trai thì chồng chết. Cô về làng tôi (quê mẹ) lấy ông Cả Luyến là đời chồng thứ hai, sinh thêm được ba trai và một gái. Chị Khuông chính là mụn con gái cấn cơm cấn sữa của cô. Sau này chị Khuông yêu anh Chấp lắm nhưng chỉ vì anh Chấp là con riêng của vợ hai bác Lý Tín nên tự nhiên họ lại thành ra “có họ” và không thể lấy được nhau nữa…
Ngồi như thế một lát thì nghe có tiếng giày đinh đi vào trong sân. Chúng tôi co dúm cả người lại, sợ đến nghẹt thở. Nhưng vì ngồi ép sát bức vách có lỗ thủng nên tôi vẫn nhìn ra được ngoài sân. Tôi thấy một thằng tây lênh khênh đi vào. Nó đứng ở giữa sân, nghênh ngó một lúc, rồi lại đi ra, không bắn súng mà cũng không đốt nhà.
Tờ mờ sáng hôm sau, khi giặc đã rút đi, mọi người ấn trốn mới tìm về rì rầm kể với nhau về chuyện đêm qua. Thì ra làng tôi họp mít tinh trong sân nhà ông Ký Đính. Còn đang hát quốc ca thì có tin báo “Tây đấy!”. Thế là mọi người bỏ chạy tán loạn. Bố tôi không cả kịp chạy qua nhà đón tôi. Nhưng khi đã chạy ra ngoài đồng, ngồi ẩn trong ruộng lúa, nhìn về làng thấy ngọn lửa bốc cao, bấy giờ ông cụ mới bồn chồn lo “nó mà đốt ra đến xóm đình thì thằng bé chết cháy”. Sau lần chết hụt ấy, đàn ông làng tôi không giám ngủ đêm trong làng nữa. Cứ  cơm tối xong, là lại ôm chăn, ôm chiếu xuống thuyền, bồng bềnh ra ngủ rải rác ở các đống ngoài đồng xa. Cố nhiên là bố tôi phải mang cả tôi đi theo. Cứ hai ba người lại chọn một đống để cùng ngủ cho vui. Họ thường trải chiếu lên cỏ, còn trên thì đắp chăn, đắp màn để che sương. Vì đống thường không bằng phẳng lại có một lớp cỏ, cho nên cái cảm giác nằm trên đống ngủ cũng bồng bềnh như nằm trên sóng vậy.




 

SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân