Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012

Về làng dự lễ khánh thành nhà thờ mẫu

 1. Cổng làng văn hóa Thông Lộc: "Nhiệt liệt chào mừng các đại biểu về dự lễ khánh thành nhà thờ mẫu làng Thông Lộc"


 2+3: Các cụ ông, cụ bà trên đường ra dự lễ
 4. Cổng khu văn hóa tâm linh làng Thông Lộc gồm: đình làng, chùa làng (Linh Phúc tự) và nhà thờ Tam tòa thánh mẫu.


 7. Tam tòa thánh mẫu
 8. Ban thờ Mẫu Thượng Ngàn
9. Ban thờ Đức thánh Trần (Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn)
10. Chi hội trưởng Hội NCT Đỗ Đình Huy và Bí thư chi bộ thôn Vũ Văn Thiệu cắt băng khánh thành nhà thờ mẫu

 11+12. Cụ Vũ Văn Giai thắp nén nhang đầu tiên







 13-20: Các đoàn khách lần lượt vào dâng hương
22. Quang cảnh ngoài sân của buổi lễ


27/9/2012
Đỗ Đình Tuân 

Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012

Danh nhân nho sĩ viết về Chí Linh 4


                                Hồ Nguyên Trừng
                                         ( ? )

            Hồ Nguyên Trừng, khi làm quan cho nhà Minh đổi là Lê Trừng, tự Mạnh Nguyên,  biệt hiệu là Nam Ông (ông già phương nam), người ở vùng Đại Lại tỉnh Thanh Hóa. Chưa rõ ông sinh và mất năm nào, chỉ biết ông là con cả của Hồ Quý Ly nhưng ông không kế vị cha làm vua mà chỉ giữ các chức như Tư đồ, Tả tướng quốc…
            Năm 1407, mượn cớ “phù Trần diệt Hồ”, nhà Minh đã đem quân xâm lược nước ta, cha con Hồ Quý Ly đều bị bắt đưa về Kim Lăng Trung Quốc. Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương bị xử tử hình, nhưng Hồ Nguyên Trừng và một người cháu tên là Nhuế, con Hồ Hán Thương thì được tha bổng vì có tài và bằng lòng làm quan phục vụ nhà Minh. Lúc đó Lê Trừng đã sáng chế ra một loại súng “Thần cơ” có tính năng, tác dụng tốt hơn hẳn các loại súng thời bấy giờ. Lê Trừng đã tỏ ra trung thành với nhà Minh và hững hờ với vận mệnh của dân tộc. Trong những năm sống ở Trung Quốc, Lê Trừng từng được nhà Minh cho làm đến chức Á khanh như Chính nghị đại phu, Công bộ tả thị lang v.v…
            Tuy vậy trong sâu thẳm cõi lòng Lê Trừng vẫn âm ỉ những nỗi niềm của một người Việt tha hương, đó là lòng nhớ nước, niềm tự hào và nỗi  xót xa tiếc nuối trước những mất mát của lịch sử và văn hóa dân tộc mình. Có lẽ đó chính là lý do và động cơ ông viết “Nam ông mộng lục” . Chữ “mộng” theo ông  giải thích thì chỉ có nghĩa là những sự thực lịch sử đã qua nhưng đến nay còn ít người biết đến: “Nhân vật trong sách, xưa kia rất phong phú, chỉ vì đời thay việc đổi, dấu tích hầu như không để lại, thành ra còn mỗi một mình tôi biết chuyện và kể lại mà thôi, thế không phải mộng là gì?” Trong lời tựa cuốn sách, ông còn viết rằng: “…nhân vật cõi Nam Giao từ xưa đã đông đúc, lẽ nào vì nơi hẻo lánh mà vội cho là không có nhân tài! Trong lời nói, việc làm, trong tài năng của người xưa có nhiều điều khả thủ, chỉ vì qua cơn binh lửa, sách vở bị cháy sạch, thành ra những điều đó đều bị mất mát cả, không còn ai được nghe, há chẳng đáng tiếc lắm sao? Nghĩ tới điểm này tôi thường tìm ghi những việc cũ, nhưng thấy mất mát gần hết, trong trăm phần chỉ còn được một hai; bèn góp lại thành một tập sách, đặt tên là Nam Ông mộng lục, phòng khi có người đọc tới; một là để biểu dương các mẩu việc thiện của người xưa, hai là để cung cấp điều mới lạ cho người quân tử,…”
            Theo Từ điển văn học Việt Nam(từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX ) thì Nam ông mộng lục gồm 31 thiên nhưng thiếu ba thiên, nay chỉ còn lại 28 thiên. Mỗi thiên nói một chuyện ở Việt Nam thời Lý Trần:
1-Nghệ vương thủy mạt : đầu đuôi truyện Trần Nghệ Tông.
2-Trúc Lâm thị tịch: cái chết của Trần Nhân Tông, hiệu Trúc Lâm.
3-Tổ linh định mệnh: chuyện linh hồn ông là Trần Nhân Tông định ngôi vua cho cháu là Trần Minh Tông.
4-Đức tất hữu vị: chuyện Trần Minh Tông làm vua.
5-Phụ đức trinh minh: chuyện vợ vua Trần Duệ Tông đi tu.
6-Văn táng khí tuyệt: chuyện con gái Trần Thái Tông nghe tin cha mất đã kêu gào đến tắt thở mà chết.
7-Văn Trinh ngạnh Trực: chuyện về tính thẳng thắn cứng rắn của Chu Văn An.
8-Y thiện dụng tâm : chuyện Phạm Công Bân một thày thuốc giỏi.
9-Dũng lực thần dị: chuyện Lê Phụng Hiểu sức khỏe hơn người, có công đánh giặc.
10-Phu thê tử tiết: chuyện hai vợ chồng Ngô Miễn tự tử khi quân Minh thắng.
11-Tăng đạo thần thông: chuyện về tài trừ ma, diệt yêu quái của sư Giác Hải và đạo sĩ Thông Huyền.
12-Tấu chương minh nghiệm: chuyện về việc cầu tự cho Trần Thái Tông sinh ra Trần Nhật Duật và việc cầu tăng tuổi thọ cho Trần Nhật Duật.
13-Áp lãng chân nhân: chuyện đạo sĩ họ La dùng pháp thuật dẹp yên sóng gió cho vua Lý Thái Tông vượt biển đi đánh Chiêm Thành năm 1044.
14-Minh Không thần dị: chuyện nhà sư Nguyễn Minh Không có phép lạ chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông.
15-Nhập mộng liệu bệnh: chuyện nhà sư Quán Viên bằng cách nằm mộng mà chữa được bệnh đau mắt cho vua Trần Anh Tông.
16-Ni sư đức hạnh: chuyện về đức hạnh của ni sư Tuệ Thông đời Trần.
17-Cảm khích đồ hành: chuyện Trần Đạo Tái, con của Trần Quang Khải, vì cảm phục Trần Nhân Tông mà chỉ đi bộ không cần ngựa xe.
18-Điệp tự thi cách: nói về kiểu thơ điệp tự của Trần Thánh Tông.
19-Thi ý thanh tân: nói về những bài thơ hay của Trần Nhân Tông tức Trúc Lâm đại sĩ trong tập thơ Đại hương hải ấn của ông.
20-Trung trực thiện chung: nói về tình trung trực, tiết tháo của hai anh em Phạm Ngộ, Phạm Mại.
21-Thi phúng trung gián: nói về việc Trần Nguyên Đán làm thơ ngụ ý bóng gió để khuyên can Trần Nghệ Tông.
22-Thư dụng tiền nhân cảnh cú: nói về việc Nguyễn Trung Ngạn làm thơ viếng Sầm Lâu(tức Trần Toại), tác giả Sầm Lâu tập.
23-Thi ngôn tự phụ: nói về thơ và tính cách Nguyễn Trung Ngạn.
24-Thi tửu kinh nhân: nói về Hồ Tông Thốc uống rượu khỏe, làm thơ nhiều.
25-Thi triệu dư khương: nói về Nguyễn Thánh Huấn, ông ngoại của Hồ Quý Ly, có bài thơ dự báo phúc trạch của con cháu.
26-Thi xứng tướng chức: nói về bài thơ tiễn sứ nhà Nguyên của Trần Nghệ Tông lúc còn làm tể tướng.
27-Thi thán trí quân: nói về bài thơ tự thán để khuyên vua của Trần Nguyên Đán.
28-Quý khách tương hoan: nói việc tướng Mạc Ký nhà Trần làm thơ tiễn sứ nhà Nguyên là Hoàng Thường.
            Nam ông mộng lục là tác phẩm đầu tiên của người Việt Nam viết ở nước ngoài. Theo lời tựa của tác giả thì sách viết xong năm 1438( Chính Thống năm thứ 3).Đầu sách có bài tựa viết năm 1440(Chính Thống năm thứ 5) của Hồ Huỳnh, quan Thượng thư đồng triều với Hồ Nguyên Trừng. Cuối sách có bài hậu tự viết năm 1442(Chính Thống năm thứ 7) của Tống Chương, một người Việt làm quan triều Minh, có thể đây là năm sách được khắc in lần đầu. Năm 1920, sách được in lại, có thêm bài bạt của Tôn Dục Tú.
            Sau đây chúng tôi xin giới thiệu bản dịch một số thiên viết về các nhân vật lịch sử có di tích ở Chí Linh hoặc có liên quan đến các nhân vật lịch sử ở Chí Linh.



                   Văn Trinh, con người cứng rắn và ngay thẳng
                        (Bản dich thiên Văn Trinh ngạnh trực) 

            Chu An biệt hiệu là Tiều Ẩn, người ở vùng Thượng Phúc 1 đất Giao Chỉ. Tính ông liêm khiết và cương trực. Ở nhà thường ham thích đọc sách, học vấn tinh thông, tiếng tăm lừng lẫy xa gần. Học trò đầy cửa, thường vẫn có những người đỗ đạt và làm quan to. Chu An là người điềm đạm, ít ham muốn, không đi thi. Khoảng năm Chí Nguyên 2, Trần Minh Vương 3 có vời ông đến kinh đô trao cho chức Quốc tử Tư nghiệp, giảng sách cho thế tử 4. Được ít lâu chuyển làm chức Tế tửu nhà Thái học. Đến khi Minh Vương mất, con là Dụ Vương 5 hay chơi bời, bỏ việc nước, bỏ quyền thần dần dần làm nhiều điều trái phép, Chu An nhiều lần can ngăn mà vua không nghe, lại dâng sớ xin chém bảy tên gian thần đều là hạng quyền thế cả, người đương thời gọi là Thất trảm sớ. Tờ sớ dâng lên nhưng không được trả lời, Chu An bèn treo mũ từ quan, trở về với vườn ruộng. Sau Dụ Vương mất, trong nước có loạn. Quần thần rước Nghệ Vương về, lập lên làm vua. Chu An nghe tin ấy, rất đỗi vui mừng, bèn chống gậy đến kinh đô để yết kiến. Rồi ngay sau đó, ông xin trở về làng, lấy cớ già nua ốm yếu, từ chối không nhận chức tước. Nhà vua ban cho hiệu “Văn Trinh tiên sinh” và sai người mang rất nhiều lễ vật tiễn đưa về làng. Chẳng bao lâu Chu An mất ở quê nhà. Nhân dân và kẻ sĩ đô thành vốn ngưỡng mộ phong cách cao đẹp của ông, không ai là không thở than thương tiếc.
            Trước đó, trong đám học trò của Chu An có người tuy ra làm quan nhưng vẫn thường đến thăm viếng ông, lạy bên giường ông, người nào được trò chuyện đôi câu trước lúc ra về thì lấy làm mừng rỡ lắm. Ai có điều gì không tốt, liền bị ông quở trách, nhiếc móc gay gắt, thậm chí quát mắng không cho vào nhà. Thanh cao, nghiêm chỉnh nổi tiếng một thời, lẫm liệt đến thế. Ôi, thật là một con người thiện vậy.

                                                Tuấn Nghi và Nguyễn Đức Vân dịch

Ghi chú
1-Thượng Phúc: tức huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông(nay thuộc Hà Tây).Theo ĐVSKTT thì Chu An người huyện Thanh Đàm(nay thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội).
2-Chí Nguyên: niên hiệu của Nguyên Thể Tổ. Hồ Nguyên Trừng lúc này đang làm quan cho nhà Minh, không dám đề niên hiệu vua nước Đại Việt.
3-Trần Minh Vương: tức vua Trần Minh Tông, làm vua từ năm 1314 đến năm 1329.
4-Thế tử: đây chỉ con của Trần Minh Tông.
5-Dụ Vương: tức vua Trần Dụ Tông, làm vua từ năm 1341 đến năm 1369.
                  

              Làm thơ bóng gió hết lòng khuyên can
              (Bản dịch thiên Thi phúng trung gián)                                 

            Vào khoảng năm Chí Chính 1, Trần Nguyên Đán ở Giao Chỉ là người thuộc tôn thất nhà Trần 2 ra làm quan với Dụ Vương 3, giữ chức Ngự sử đại phu. Vua không siêng chăm việc nước, bọn quyền thần làm nhiều điều phi pháp, Nguyên Đán luôn can ngăn, nhưng không chịu tiếp thụ. Đến khi Dụ Vương mất, cháu là Hôn Đức 4 kế lập, thời sự lại càng tồi tệ. Nguyên Đán dâng thư lên, nhưng trên không trả lời, bèn xin thôi quan mà về. Có gửi cho bạn bè cùng làm quan trong đài Ngự sử bài thơ rằng:
臺端一去便天厓
回首愴心事事違
九陌塵埃人易老
五湖風雨客思歸
儒丰不振回無力
國势如懸去亦非
今古興忘真可監
諸公何忍諫書希
Đài đoan nhất khứ tiện thiên nhai,
Hồi thủ thương tâm sự sự vi.
Cửu mạch trần ai nhân dị lão,
Ngũ Hồ  phong vũ khách tư quy.
Nho phong bất chấn hồi vô lực,
Quốc thế như huyền khứ diệc phi.
Kim cổ hưng vong chân khả giám,
Chư công hà nhẫn gián thư hy.
Kẻ làm việc ở đài Ngự sử một khi ra đi là tận chân trời,
Ngoảnh mặt lại đau lòng thấy việc gì cũng trái mắt.
Bụi bặm đường kinh thành làm cho người dễ già,
Mưa gió chốn Ngũ Hồ 5xui khách muốn về ẩn.
Nho phong không xốc nổi, trở lại cũng bất lực,
Thế nước như treo, ra đi cũng là sai.
Sự hưng phế xưa nay thật có thể làm gương,
Các ông sao nỡ ít đưa thư can ngăn đến vậy!
            Về sau, khi cung đình dấy nạn 6, Nguyên Đán chạy theo Nghệ Vương7. Vua 8 lên ngôi, lấy Nguyên Đán làm Tư đồ Bình chương sự, ở ngôi Tể tướng nhiều năm rồi mất.
            Ông là người thông hiểu lịch pháp, từng làm ra sách Bách thế thông kỷ, trên khảo từ năm Giáp Thìn thời Nghiêu, dưới tới Tống, Nguyên; nhật thực, nguyệt thực, triền độ các vì sao đều phù hợp với sách cổ; phụng đạo tinh luyện, cầu mưa có ứng nghiệm. Tự lấy hiệu là Băng Hồ tử.
                                                                   Tuấn Nghi  dịch            

Ghi chú
1-Chí Chính: niên hiệu cuối cùng của Nguyên Thuận Đế, từ 1314 đến năm 1368.
2-Trần Nguyên Đán là cháu tằng tôn của Trần Quang Khải(1241-1294).
3-Dụ Vương: chỉ Trần Dụ Tông, làm vua từ năm 1341 đến 13 69.
4-Hôn Đức: tức Dương Nhật Lễ.
5-Ngũ Hồ: một thắng cảnh nằm trong địa phận hai tỉnh Giang Tô và Triết Giang bên Trung Quốc.
6-Dấy nạn: chỉ việc cha con Nguyên Trác và hai con của Công chúa Thiên Ninh mưu giết Dương Nhật Lễ không thành, bị Dương Nhật Lễ quật lại. Sự việc xẩy ra như sau: Vào một đêm tháng 9 năm Canh Tuất(1370), cha con Nguyên Trác và hai con của Công chúa Thiên Ninh, đem người tông thất vào trong thành định giết Dương Nhật Lễ, nhưng Nhật Lễ đã trèo qua tường, nép mình dưới cầu mới, không ai lùng thấy, đều phải bỏ về. Sáng hôm sau Nhật Lễ vào cung, sai người chia đi bắt các kẻ chủ mưu, cộng cả thẩy 18 người đem giết cả.
7+8- Nghệ Vương, Vua: đều chỉ Trần Nghệ Tông làm vua từ 1370 đến năm 1372.
                                                                  
27/9/2012
Đỗ Đình Tuân

Thứ Hai, 24 tháng 9, 2012

Ý kiến ngắn

                                    Thơ và trình bày thơ

Nhìn bài thơ Qua cầu bãi cháy của Xuân Hiểu trên trang Tri Ân cuộc đời sáng nay cứ ngỡ đây là một bài thơ bát cú Đường luật:
Cửa Lục vẫn xanh mầu lá biếc
Rồng thiêng ưỡn ngực nối đôi bờ
Đêm ngày nườm nượp xe qua lại
Thỏa nguyện bao đời vẫn ước mơ
Bãi Cháy từ đây thêm nét mới
Cây đàn thế kỷ đã căng dây
Sẽ còn lưu mãi cùng non nước
Một khúc tráng ca tặng đất này.
                        Nguyễn Xuân Hiểu
Nhưng đọc xong bài thơ mới “ngộ” ra là không phải. Đây chỉ là một bài thơ bảy chữ gồm hai khổ, mỗi khổ bốn câu. Với tôi thì đây chỉ là lỗi trình bày. Nhưng với không ít người tôi gặp, trong trường hợp tương tự, họ sẽ hạ ngay một câu bình:
-“Thối ! Chẳng hiểu đếch gì thơ Đường mà cũng Đường với chả luật ?”.
Nghe thì hơi chối tai nhưng rõ ràng là cách trình bày không phân khổ như trên đã làm họ hiểu lầm ra như vậy. Nếu không muốn có những hiểu lầm tương tự, bài thơ trên phải trình bày như sau:
Cửa Lục vẫn xanh mầu lá biếc
Rồng thiêng ưỡn ngực nối đôi bờ
Đêm ngày nườm nượp xe qua lại
Thỏa nguyện bao đời vẫn ước mơ

Bãi Cháy từ đây thêm nét mới
Cây đàn thế kỷ đã căng dây
Sẽ còn lưu mãi cùng non nước
Một khúc tráng ca tặng đất này.
                        Nguyễn Xuân Hiểu
Trong khi đó ở thể thơ lục bát không cần thiết phải phân khổ thì nhiều chỗ lại cứ thấy 2 câu hoặc 4 câu lại cách dòng ? Nếu cần thì ở thơ lục bát chỉ nên cách dòng trong trường hợp có sự đổi vần. Sự cách dòng xem như một lời ngầm báo trước rằng từ câu sau bài thơ bắt đầu đổi vần. Làm như thế tôi tin người đọc sẽ dễ chịu hơn nhiều.

25/9/2012
Đỗ Đình Tuân


Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2012

Các vua viết về Chí Linh 6


 
                                          Vua Tự Đức
                                          (1829-1883)

Tự Đức tên húy là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, còn có tên nữa là Nguyễn Phúc Thì, Sinh ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu (1829), là con thứ hai của vua Thiệu Trị với bà Phạm Thị Hằng, con gái quan Thượng thư bộ lễ Phạm Đăng Hưng. Anh vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Hồng Bảo là người quá ham chơi, mê cờ bạc, không chịu học hành, vì vậy vua Thiệu Trị khi mất đã để di chiếu truyền ngôi cho ông.
Tháng 10 năm 1847, ông lên ngôi vua lúc mới 19 tuổi. Vua Tự Đức sức yếu nên ít đi kinh lý nhưng bù lại ông thông minh, ham học nên kiến thức khá sâu rộng. Có điều ông thiên về sách vở thành giáo điều bảo thủ và dị ứng với văn minh phương Tây. Vì thế nên nhiều danh sĩ đương thời như Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền…nhiều lần dâng sớ điều trần xin nhà vua cải cách theo gương Nhật Bản, Thái Lan, Hương Cảng… đều bị ông từ chối. Kết quả, làm xã hội Việt Nam ngày càng bị tụt hậu, không phát triển kịp với trào lưu thời đại, cuối cùng rơi vào tay thực dân Pháp.
Tự Đức là ông vua chí hiếu. Ông quy định các ngày lẻ trong tháng thì thiết triều còn các ngày chẵn thì dành chầu thăm mẹ. Khi vào chầu thì quỳ gối nín hơi hỏi thăm sức khỏe mẹ, rồi sau đó mới cùng mẹ đàm đạo kinh sách. Bà Thái hậu Từ Dũ (Phạm Thị Hằng) vốn là người thông kinh bác sử biết nhiều chuyện cổ kim. Hễ thấy mẹ nói gì ông thường ghi vào sổ nhỏ gọi là Từ huấn lục(sách ghi những điều mẹ dậy).
Vua Tự Đức không có con, ông nuôi ba người cháu làm con nuôi: Con đầu là Nguyễn Phúc Ưng Ánh (sau đổi là Ưng Chân) tức vua Dục Đức sau này. Người thư hai là Nguyễn Phúc Ưng Ái, sau là vua Đồng Khánh. Người thứ ba là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, sau là vua Kiến Phúc.
Ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi (1883) Tự Đức mất, trị vì được 35 năm, dài nhất trong các vua triều nguyễn và hưởng thọ 55 tuổi.
Về văn hóa, vua Tự Đức là người chủ trương soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Bản thân nhà vua cũng viết nhiều thơ văn sau tập hợp trong các sách: Việt sử tổng vịnh, Ngự chế thi phú, Ngự chế thi...
Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu mấy bài thơ của vua Tự Đức viết về các danh nhân ở Chí Linh

1.詠陳興道
為國忘家迥物情
手中空杖武功成
後來北虜猶驚遁
白晝風雷匣劍鳴
                    嗣德
Phiên âm
Vịnh Trần Hưng Đạo
Vị quốc vong gia quýnh vật tình
Thủ trung không trượng vũ công thành
Hậu lai Bắc lỗ do kinh độn
Bạch trú phong lôi hạp kiếm minh.
                                      Tự Đức
Dịch nghĩa:
Làm thơ về Trần Hưng Đạo
Vì nước quên nhà buông vật nhọn để tỏ lòng
Trong tay không gậy nhưng võ công lừng lẫy
Sau này bọn giặc phương Bắc cứ thoáng nghe đã khiếp vía bỏ chạy
Giữa ban ngày mà cây kiếm nằm trong hộp vẫn rền vang như gió sấm.
Dịch thơ
Tỏ lòng vì nước buông cây nhọn
Không gậy trong tay lập đại công
Giặc Bắc thoáng nghe bèn khiếp chạy
Trong hòm gió sấm kiếm còn rung.
                         Đỗ Đình Tuân dịch

2.詠朱文安
上庠山斗世間師
心與人乖一去遲
七斬疏成天地鋻
直聲不共有陳衰
                    嗣德
Phiên âm
Vịnh Chu Văn An
Thượng tường sơn đẩu thế gian sư
Tâm dữ nhân quai nhất khứ trì
Thất trảm sớ thành thiên địa giám
Trực thanh bất cộng hữu Trần suy.
                                        Tự Đức
Dịch nghĩa
Làm thơ về Chu Văn An
Trường học mãi trên Thái Sơn Bắc Đẩu là người thày của thế gian
Lòng thày khác với mọi người nhất nhất đi đứng đều ung dung thư thái
Viết xong sớ thất trảm trời đất đều nhìn rõ
Lời ngay mà không nghe tất có nhà Trần suy vong.
Dịch thơ
Thái Sơn Bắc Đẩu xứng danh thày
Lòng khác mọi người tính thẳng ngay
Thất trảm viết xong  trời đất rõ
Vua Trần không thuận tất lung lay.
                             Đỗ Đình Tuân dịch

3.詠陳元旦
要路多艱勢路開
琴詩自作自嘲詼
當年殉難惟莊定
猶笑才非大厦才
                    嗣德
Phiên âm
Vịnh Trần Nguyên Đán
Yếu lộ đa gian thế lộ khai
Cầm thi tự tác tự trào khôi
Đương niên tuẫn nạn duy Trang Định
Do tiếu tài phi Đại Hạ tài.
                             Tự Đức
Dịch nghĩa
Làm thơ về Trần Nguyên Đán
Con đường trọng yếu tuy nhiều gian nan nhưng đã mở lối cho cuộc đời
Tự làm thơ nhạc tự cười vui
Cùng năm ấy chết vì gặp nạn chỉ có Trang Định
Còn cười tài của mình không bằng tài của vua Đại Hạ.
Dịch thơ
Gian hiểm đường đời mở lối ra
Tự làm thơ nhạc tự cười khà
Cùng năm tử nạn riêng Trang Định *
Đại Hạ cười mình vẫn  kém xa.
                             Đỗ Đình Tuân dịch

Ghi chú
*Trang Định: tức Trang Định vương, tên húy là Trần Ngạc, con thứ của Trần Nghệ Tông bị Hồ Quý Ly âm mưu giết hại.

4.詠阮廌
葩國詞章筆舌蘭
平呉名溢鼎鍾間
功成已愛崑山興
其柰蛾眉不許還
                    嗣德
Phiên âm
Vịnh Nguyễn Trãi
Ba quốc từ chương bút thiệt lan
Bình Ngô danh dật đỉnh chung gian
Công thành dĩ ái Côn Sơn hứng
Kỳ nại nga my bất hứa hoàn
                                Tự Đức
Dịch nghĩa
Làm thơ về Nguyễn Trãi
Ngòi bút văn chương là tinh hoa của đất nước
Bình ngô công lớn khắc vào chuông đỉnh
Khi thành công rồi lại yêu Côn Sơn và thú ở đấy
Sao không giữ người đẹp ở lại ?
Dịch thơ
Sáng đẹp văn chương nhất quốc gia
Bình Ngô danh tiếng mãi  không nhòa
Công thành yêu đất  Côn Sơn ở
Người đẹp sao không giữ lại nhà ?
                               Đỗ Đình Tuân dịch

24/9/2012
Đỗ Đình Tuân                              



Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2012

Chùm thơ mừng ông Ngôi




1. BỒ BỐN PHƯƠNG

Ông Ngôi thêm láp tốp rồi
Từ nay thỏai mái đêm ngồi mà thơ
Mặc bà Sâm đấy bơ vơ
Ông còn mải mốt đi "bồ" bốn phương.

22/9/2012
Đỗ Đình Tuân


2.GỬI ANH NGÔI
(Nhân nhận quà của DA 1044)

Nghe tin anh được nhận quà
Tiệc vui giao hảo tôi cũng định sang nhà anh xơi
Sức khỏe trời không cho phép nữa rồi
Cúi xin thi hữu nhận của tôi một lời cáo lui
Thơ tôi lủng củng thế thôi
Có đứa dốt tịt lại bảo thơ tôi tuyệt vời !
Nâng thơ chúc cạn chén đời
Tình dài ngày ngắn đông thời sang xuân.

22/9/2012
Nguyễn Minh Tư
(Huudoandongtrieu)

Sinh nhật Thu Hồng

                                         (22/9/2001 - 22/9/2012)
                                         Thu Hồng, Phương Mai, Minh Hà


                                         Thu Hồng
                                        Phương Mai
                                         Chị em Thu Hồng-Minh Hà


23/9/2012
Đỗ Đình Tuân


Mấy câu "bình loạn"


Ngẫu nhiên bắt gặp ngầu nhiên lia
Nhân vật Song Thu hổng biết gì
Bắt ốc bờ ao nom rất nghệ
Thế rồi câu nọ gọi câu kia…

Thế rồi câu nọ gọi câu kia
Dạo gót quanh vườn tiếp tục lia
Không ngờ cây bút Minh Hương hóm
Một giọng thơ Đường nghe mới ghê !

Mới biết khuôn hình chẳng bó ai
Nếu khi cảm hứng vọt ra ngoài
Tự nhiên câu chữ không gò bó
Trắc trắc bằng bằng thêm khoái tai.

23/9/2012
Đỗ Đình Tuân

SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân