Thứ Hai, 7 tháng 11, 2016

Điểm diện nhà văn nhà thơ 41: Xuân Thiều




41. Xuân Thiều
    (1930-2007)

"Đôi vai" thì gánh lập trường
Đôi tay sờ soạng con đường cuối thôn
Nghe anh kể chuyện đầu nguồn
Về nhà thấy mất cái hồn của em.
                                Xuân Sách

NGÒI BÚT KHÔNG LỚN TIẾNG “TUYÊN NGÔN”
    Đại tá, nhà văn Xuân Thiều tên thật là Nguyễn Xuân Thiều (1930-2007) quê ở xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ-Hà Tĩnh. Ông gia nhập QĐND Việt Nam từ những năm đầu Toàn quốc kháng chiến, từng làm chính trị viên đại đội, chiến đấu trên mặt trận Trị Thiên trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ông là nhà văn trưởng thành trong quân đội, tác giả của 15 tập văn xuôi bao gồm các thể loại, từng 3 lần đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam. Hầu hết các tác phẩm của ông đều gắn với đề tài LLVT, chiến tranh cách mạng và những vấn đề sau chiến tranh. Ông đã được trao Giải thưởng Nhà nước về VHNT đợt 1 năm 2001 và vừa qua đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT…
          Nhà văn Xuân Thiều là một trong những cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Sáng tác của Xuân Thiều trải rộng trên hai đề tài chính: đề tài chiến tranh Cách mạng và đề tài hậu chiến. Mảng đề tài nào Xuân Thiều cũng có những tác phẩm được viết bởi nhiều trăn trở tìm tòi về tư tưởng chủ đề cũng như một bút pháp đậm chất nhân văn trên một nền tảng tinh thần không thay đổi của một nhà văn mặc áo lính: Tôn trọng sự thật và niềm tin yêu cuộc sống.
          Là một nhà văn quân đội, sống và sáng tạo trong thời kỳ đất nước và nhân dân đang tiến hành công cuộc chiến đấu anh dũng bảo về Tổ Quốc, cố nhiên điều quan tâm trước hết của Xuân Thiều là chủ đề chiến tranh Cách mạng. Với đề tài này, trong nhận thức của Xuân Thiều, sự thật căn bản nhất không có gì khác hơn là sự chiến đấu, hy sinh quả cảm, anh hùng của quân và dân ta trên các mặt trận, trong muôn vàn gian khổ hy sinh, trong những thời điểm cam go, hiểm nghèo, mà ở đó sự sống và cái chết chỉ ở trong gang tấc. Các thể hệ bạn đọc còn nhớ người chiến sỹ tên là Hiên trong truyện ngắn Gieo mầm (viết năm 1964 ) của Xuân Thiều, khi rơi vào một tình thế phải lựa chọn giữa sự sống và cái chết, đã tìm đến cái chết khốc liệt nhất để tỏ rõ ý chí sắt đá của mình trước mũi súng của kẻ thù. Kẻ địch đê hèn buộc dây vào cổ chân người chiến sỹ rồi cho ô tô kéo lê trên đường như để không chỉ để tàn sát thảm khốc một con người, mà còn để đe dọa những người chiến sỹ khác. Nhưng chúng đã thất bại thảm hại: chính cái chết của người anh hùng kia đang gieo những mầm căm thù, mầm hy sinh quả cảm của muôn vàn người chiến sỹ khác. Ở một số tập truyện ngắn khác, như: Tâm sự người chiến sỹ quản tượng ( 1967 ), Mặt trận kêu gọi ( 1969 )… Xuân Thiều thường có cách tiếp cận đề tài khỏe khoắn, được viết với cảm hứng sử thi anh hùng, với một thứ ngôn ngữ trong sáng nói lên chất bi tráng của cuộc chiến đấu quả cảm của người chiến sỹ.

          Không chỉ ở truyện ngắn, đề tài chiến tranh còn được Xuân Thiều phản ảnh đặc sắc trong thể loại tiểu thuyết như: Thôn ven đường ( 1971 ), Huế mùa mai đỏ ( 1978 )… Tại những tác phẩm này, hành động anh hùng không chỉ được mô tả như sự hóa thân thành anh hùng ở những cá nhân, mà là sự biểu hiện phẩm chất anh hùng như là ý thức của cả một tập thể. Nhà văn cố gắng miêu tả thật khách quan, thật trung thực hành vi anh hùng tập thẩ ấy, như để khẳng định một sự thật: không thể khuất phục được một dân tộc, một quân đội khi mà ý thức anh hùng của họ như một phẩm chất của đạo đức, lối sống thường ngày. Tiểu thuyết Thôn ven đường cũng như Huế mùa mai đỏ tập trung làm sáng tỏ điều này. Tình thế trong Thộn ven đường là cuộc chiến đấu một mất một còn tại một xã vùng sâu ngoại ô Huế. Kẻ địch đã trở nên hung tàn, mất hết tính người: Cướp bóc, đốt phá, ném người xuống sông, xuống biển, ủi đất, ủi làng, ngày đêm lùng sục người Cách mạng. Trước sự kìm kẹp nghiệt ngã đó, người dân cắn răng chịu mọi cơ cực để bảo vệ Cách mạng. Điều đáng nói là đối mặt với kẻ thù chỉ là những người già, những thiếu niên và phụ nữ, có người bụng mang dạ chửa. Có người rơi vào hoàn cảnh éo le: bố mất, mẹ mù lòa, chồng đi hoạt động, vợ chồng hầu như không gặp nhau, chị lại đang bị theo dõi từng bước đi…Vậy mà chị vừa sản xuất vừa chiến đấu bảo vệ cơ sở Đảng, vừa bảo vệ cái thai nhi bé bỏng trong bụng, trong khi kẻ thù đang ra sức tiêu diệt chị. Cuốn tiểu thuyết dựng lên cả một tập thể người dân bình thường bên chị, như Thím Hai Cao, cô Miên, bác Tích, bé Thắng…sẵn sàng hy sinh tính nạng mình để che chở cho người phụ nữ hoạt động cách mạng. Thôn ven đường để lại gương mặt một tập thể những con người hết sức bình dị mà rất đỗi cao cả như phẩm chất vốn vậy của những công dân Việt Nam khi bị quân thù dồn vào thế cùng cực!
          Sau Thôn ven đường, Xuân Thiều tiếp tục viết về đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Huế mùa mai đỏ. Cuốn tiểu thuyết mới này tập trung miêu tả cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968 tại thành phố Huế. Đây là một tác phẩm Xuân Thiều có ý định bày tỏ những quan điểm của mình về cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn này. Trung đoàn trưởng một cánh quân đánh vào phía bắc Huế là một người con của Huế, đi tập kết để lại vợ và con nhỏ, nay về giải phóng quê hương. Nhưng anh rơi vào hoàn cảnh éo le: người vợ đã bị kẻ thù cưỡng bức li dị anh để ở với người khác. Tuy vậy, trung đoàn trưởng đã dẹp sang một bên hoàn cảnh của mình, cùng với những chiến sỹ chiến đấu bằng cả mối thù chung và riêng sâu nặng của mình. Xuân Thiều dành những trang văn trần trụi, nóng bỏng để mô tả cuộc chiến đấu khốc liệt của cánh quân phía bắc trước sự chống trả điên cuồng của kẻ địch. Nhưng sau những trận chiến đấu quyết liệt, hy sinh rất nhiều, kẻ địch từng bước giành lại thế chủ động, buộc những đơn vị quân ta phải rút về cứ. Trung đoàn trưởng đã biết trước tình huống này trước khi mở màn chiến dịch, nhưng anh không dám đưa ra bàn bạc với cấp trên, vì sợ bị cho là do dự.
          Tập 2 lấy tên một nhân vật “Tư Thiên” đặt cho tên cuốn tiểu thuyết. Xuân Thiều muốn chứng minh Tổng tiến công Mậu Thân là một vấn đề nóng bỏng của chiến tranh Việt Nam. Cuốn tiểu thuyết đi sâu vào những trạng thái tâm lý khác nhau của nhân vật. Quả vậy, Xuân Thiều dựng lên cả một tập thể những Tư Thiên, Lưu Dương, Đặng Thà, Vũ lẫm, Quốc, Dũng, Vinh bên cạnh những người dân như ông Tân, bà Đào, chị Uyển, chị Sen…với những cuộc chiến đấu khốc liệt, những mất mát lớn lao, và những bi kịch cá nhân của những người đang chiến đấu. Chẳng hạn, Tư Thiên người anh hùng đã làm khiếp đảm kẻ địch, nhưng lại rơi vào hoàn cảnh cá nhân bi đát: cùng lúc nhận tin vợ và con trai chết. Ông là người anh hùng trong chiến trận nhưng không phải là người chiến thắng trong hạnh phúc gia đình. Cách xây dựng nhân vật vừa sử thi vừa đời thường như vậy đã làm cuốn tiểu thuyết trở nên rất chân thực viết về chiến tranh, và đó chính là sự đổi mới từ khá sớm của Xuân Thiều. Ông từng viết về Tư Thiên:  Đó không chỉ là vấn đề của sử thi mà còn là vấn đề của nhân vật với những trạng thái tâm lý khác nhau…
          Xuân Thiều là nhà văn viết nhiều thể loại khác nhau. Ký sự có: Chiến đấu trên mặt đường, Bắc Hải Vân mùa xuân 1975; Tùy bút có: Đi xa; Kịch bản phim có: Từ một cánh rừng; Thơ có: Trời xanh, Và nỗi nhớ; Tiểu thuyết có: Thôn ven đường, Huế mùa mai đỏ ( Tập 2: Tư Thiên ); Truyện dài có: Mặt trận kêu gọi, Khúc hát mở đầu…; Truyện ngắn có: Gió từ miền cát, Người mẹ tội lỗi, Xin đừng gõ cửa…; Tiểu luận có: Tiếng nói cảm xúc…
          Nhưng ấn tượng hơn cả ở Xuân Thiều là thể loại truyện ngắn. Truyện ngắn của Xuân Thiều thường đi rất sâu vào tâm trạng của cá nhân, của nhân vật trong những tình huống hết sức cụ thể mang tính điển hình cao. Ông đặc biệt nhạy cảm với những sự éo le, trắc trở của cuộc sống và từ đó ông luôn tìm ra cách để an ủi bênh vực những cuộc đời bất hạnh. Ngay từ những truyện ngắn trong tập truyện đầu tay Đôi vai (1961), Xuân Thiều đã thể hiện ý thức nhân đạo ấy của mình. Chị Nhiên ở làng Phượng Tú, bị tên lính da đen hãm hiếp, đã buộc phải sinh ra đứa bé da đen, tóc xoăn, môi dày. Hiển nhiên tình huống này đã làm người đời ghét bỏ xa lánh chị. Xuân Thiều ngược lại công khai bênh vực chị, cho rằng đứa bé không có lỗi gì, nó cần phải được làm người! (Bé An); Một tình huống khác: một chiến sỹ cách mạng tập kết ra Bắc, vì nhớ con ở lại miền Nam, anh tự nguyện nhận một đứa bé khác làm con và yêu thương nó như con đẻ của mình (Trời xanh); Một cô thương binh tàn phế đã được một gia đình yêu thương nhận làm con dâu và cô đã sống trong hạnh phúc! (Cô thương binh)… Nhưng đáng chú ý hơn cả, thể hiện bản lĩnh của một ngòi bút giàu tình yêu thương con người hơn cả là những truyện ngắn trong ba tập truyện ông viết cuối đời: Gió từ miền cát, Xin đừng gõ cửa và Có một nỗi niềm.
          Vẫn tiếp tục cái thế mạnh của ngòi bút giàu tình cảm, điều đó càng ngày càng làm ngòi bút của ông mang đậm tính nhân văn qua rất nhiều những tình huống hết sức thương cảm của đời người được tập trung miểu tả trong nhiều truyện ngắn viết sau chiến tranh. Xin lấy một vài ví dụ: Truyền thuyết Quán Tiên dựng lại bức tranh sinh động của những tháng ngày gian nan khổ cực của những cô gái trên một trọng điểm Trường Sơn. Khổ cực, chết chóc với họ không có gì đáng sợ. Nhưng thiếu thốn tình cảm đã hủy hoại tâm hồn họ, những cô gái tuổi mới lớn đầy khát khao trần thế. Xuân Thiều sử dụng bút pháp kết hợp hiện thực và huyền ảo đầy tinh tế để đi sâu vào nội tâm phức tạp của nhân vật. Và như một phản ứng thường trực, ngòi bút Xuân Thiều lại lên tiếng bênh vực những con người bất hạnh. Ở truyện Gió từ miền cát, Xuân Thiều đề cập đến tình huống hai người đàn bà, chị Nụ và cô Thắm gặp nhau trong một hoàn cảnh đặc biệt. Chị Nụ có chồng đi hoạt động vùng sâu. Hoàn cảnh ở chung hầm bí mật đã làm chồng chị và cô Thắm có con riêng với nhau. Người chồng hy sinh ngay sau đêm ở hầm với Thắm. Thắm sinh con một mình và đã một mình tìm về quê Dương, chồng chị Nụ, để gặp Nụ. Thông thường, họ không thể thông cảm cho nhau. Nhưng Xuân Thiều đã rất tinh tế theo dõi từng bước chuyển hóa cụ thể trong tâm tư nhân vật của mình và cuối cùng, hai người đàn bà ấy đã vì những đứa con mà tha thứ cho nhau. Tác giả đưa người đọc đến một kết cục rất đẹp hòa hợp trong trái tim của những người vốn sống coi trọng tình cảm. Một truyện khác: Xin đừng gõ cửa kể lại trường hợp của ông Phan Nhân Hảo, trung tá về hưu, mắc bệnh tâm thần. Trong chiến tranh, không thiếu những trường hợp bị người đời hiểu nhầm. Thế cài răng lược, hoạt động trong lòng địch, có người lúc ngã xuống, hoặc sau khi chiến tranh kết thúc bị mắc bênh tâm thần, không có cách gì giải thích những hoạt động của mình trong thời chiến. Xuân Thiều kêu gọi hãy thận trọng trước sinh mạng chính trị và danh dự của người khác… Chỉ dừng lại ba trong số nhiều truyện ngắn sau chiến tranh của Xuân Thiều trên đây, cũng có thể nhận ra ngòi bút nhân văn của ông. Phẩm chất nhân văn này là một trong những nét đặc sắc trong đời văn Xuân Thiều.
          Xuân Thiều là người đổi mới văn chương vào loại sớm. Những tiểu thuyết, truyện ngắn vừa kể trên cũng cho thấy ông đã rất ý thức được những gì văn học thời chiến của ta đang cần phải thay đổi. Tuy vậy, không như một vài đồng nghiệp khác, Xuân Thiều không lớn tiếng tuyên ngôn. Ông lặng lẽ sáng tạo, lặng lẽ thay đổi và có những bước đi rất đáng ghi nhận. Điều làm nên phẩm chất nhân văn quý giá của Xuân Thiều, không có gì khác ngoài trái tim yêu thương con người của ông, một phẩm chất mà mỗi người cầm bút đều có, nhưng chỉ những ai biết sống và viết trung thực, mới có thể làm nên những giá trị của tác phẩm văn chương. Xuân Thiều là nhà văn làm được điều đó!
Tiến sĩ LÊ THÀNH NGHỊ
Nguồn: qđnd.vn




Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2016

Điểm diện nhà văn nhà thơ 40: Anh Thơ





40. Anh Thơ
     (1921-2005)

Ấy bức tranh quê đẹp một thời
Má hồng đến quá nửa pha phôi
Bên sông vải chín mùa tu hú
Khắc khoải kêu chi suốt một đời.
                          Xuân Sách



Nữ sĩ Anh Thơ - Đa tài, đa tình nhưng cũng đa đoan

Bùi Hà 

Nữ sĩ Anh Thơ bước lên văn đàn từ khá sớm, thành danh ngay từ tập thơ đầu tay “Bức tranh quê” và đã nhận được giải khuyến khích của “Tự lực văn đoàn” cho bản thảo tập thơ này, năm 1939, khi Anh Thơ mới là cô gái 17 tuổi. Bà thuộc lớp những người sớm gia nhập phong trào Thơ mới (1932-1941), từng có thơ in trên các báo “Ngày nay”, “Phụ nữ”, “Tiểu thuyết thứ Năm”, “Hà Nội báo”, “Đông Tây”… Bà được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật, đợt III, năm 2007.

Từ một tài năng thi ca chín sớm
Nữ sĩ Anh Thơ sinh ngày 25/01/1921, mất ngày 14/3/2005. Tên thật của bà là Vương Kiều Ân với các bút danh khác như Hồng Anh, Tuyết Anh, Hồng Minh và bút danh được người yêu thơ biết đến nhiều nhất là Anh Thơ. Bà sinh ra ở thị trấn Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, còn quê gốc ở thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Vì cha bà làm công chức cho Pháp, nên tuổi nhỏ bà phải theo cha di chuyển đến nhiều nơi và đổi nhiều trường học từ Hải Dương, sang Thái Bình rồi lại về Bắc Giang mà vẫn chưa qua bậc tiểu học.
Anh Thơ tham gia Việt Minh từ năm 1945, từng là Bí thư huyện Hội phụ nữ 4 huyện thời đó: Việt Yên, Lục Ngạn, Bắc Sơn, Hữu Lũng của tỉnh Bắc Giang, rồi làm Ủy viên thường vụ Tỉnh Hội phụ nữ hai tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn.
Bà đã cho xuất bản các tập “Bức tranh quê” (thơ, 1939); “Xưa” (thơ, in chung, 1942); “Răng đen” (tiểu thuyết, 1943); “Hương xuân” (thơ, in chung, 1944); “Kể chuyện Vũ Lăng” (truyện thơ, 1957); “Theo cánh chim câu” (thơ, 1960); “Ðảo ngọc” (thơ, 1964); “Hoa dứa trắng” (thơ, 1967); “Quê chồng” (thơ, 1979); “Lệ sương” (thơ, 1995); “Hồi ký Anh Thơ” (hồi ký, 2002, gồm 3 tập: “Từ bến sông Thương”, “Tiếng chim tu hú”, “Bên dòng sông chia cắt”. Một người phụ nữ chưa học hết tiểu học, lại xuất thân trong một gia đình nho học thời ấy mà thơ in ở nhiều báo và có được một lưng vốn thơ khá dầy như vậy, rồi đảm trách nhiều công việc xã hội...chứng tỏ bà là người đa tài. Thế nhưng...
Phàm là phụ nữ làm thơ, ai mà chẳng đa tình và nếu ai không trắc trở tình duyên ít nhiều, thì thơ thường nhạt, nhưng không phải ai đa tình cũng có thể làm thơ và đa đoan như nữ sĩ Anh Thơ.
Nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại” (quyển ba- NXB Tân Dân, H., 1943- đã có lý khi nhận định về thơ của Anh Thơ: “Còn Nam Trân (tác giả tập Huế, Đẹp và Thơ, 1939), Đoàn Văn Cừ (thơ đăng ở Ngày nay - Hà Nội), Anh Thơ (tác giả tập thơ Bức tranh quê- Đời nay- Hà Nội, 1941- và Xưa- viết chung với Bàng Bá Lân - Sông Thương - Bắc Giang, 1941) và những thơ đăng trong Hương xuân (Hà Nội)… đều là những nhà thơ chuyên về mặt tả cảnh...”. Trong thi nghiệp của bà “Nếu trong ấy có chút tình thì cũng là thứ tình nhẹ nhàng như gió thoảng…”
Trong “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh và Hoài Chân do Nguyễn Đức Phiên xuất bản, 1942, có chọn in của Anh Thơ 4 bài. Hai ông đã xếp nữ sĩ đồng hạng với các nhà thơ như: Tế Hanh, Đoàn Văn Cừ, J. Leiba, Đông Hồ, Vũ Hoàng Chương… Hai ông cho rằng: “Tôi vừa nói đến lối viết của tác giả “Bức tranh quê”, tập thơ này cũng thuộc về lối thơ của người có học. Vẫn biết làm thơ đạo tình không phải bao giờ cũng là người ít học, nhưng thường người ít học chỉ có thể làm thơ đạo tình. Phải là người có học mới có thể đưa vào thơ cái cảnh:
Chó lè lưỡi ngồi thừ nhìn cũi đóng,
Lợn trói nằm hồng hộc thở căng dây.
Theo quan điểm của hai tác giả “Thi nhân Việt Nam”: “Anh Thơ từ lâu chỉ chuyên lối thơ tả cảnh, mà lại tả những cảnh (có vẻ như- Đ.N.Y) rất tầm thường: một phiên chợ, một đứa bé quét sân, một vài mụ đàn bà ngồi bắt chấy, rận. Thơ của bà đứng riêng hẳn ra một lối. Có kẻ sẽ cho rằng Anh Thơ là người vô tình. Nhưng (thử hỏi ở đời này- Đ.N.Y) có thiếu nữ nào hai mươi tuổi mà lại vô tình? Anh Thơ bắt đầu cũng đã làm những bài kể nỗi lòng mình. Hẳn người đã tập luyện nhiều lắm mới có thể đi đến cái thản nhiên, cái dửng dưng mà độc giả “Bức tranh quê” ắt phải lấy làm lạ. Nhiều lúc tôi tưởng người đã đi quá xa. Tranh quê có bức chỉ là bức ảnh; cái thản nhiên hàm súc của nghệ sĩ đã nhường chỗ cho cái thản nhiên trống rỗng của nhà nghề. Theo gót thi nhân đến đó, ta thấy uất ức khó thở: người dẫn ta vào một thế giới tù túng rồi không cho ta mơ tưởng đến một trời đất nào khác nữa.
Không, thơ phải là một tia sáng nối cõi thực và cõi mộng, mặt đất với các vì sao. Thơ không cốt tả mà cốt gợi, gợi cảnh cũng như gợi tình. Cho nên mỗi lần Anh Thơ chịu đi ra ngoài lối tù túng đó để nhìn cảnh vật một cách sâu sắc hơn, lời thơ bỗng trở nên rộng rãi không ngờ và ta thấy khoan khoái biết bao. Sau câu thơ ta mơ hồ thấy một cái gì: có lẽ là hồn thi nhân”…
Còn bà lại quan niệm rằng: “Thơ phải ngắn gọn, không nên rườm rà, phải nói ít viết ít mà người đọc lại hiểu nhiều. Thơ hay phải là những gì tinh túy, vĩnh cửu nhất từ tâm hồn con người. Người làm thơ cũng đừng cầu kì câu chữ quá mà khiến cho người đọc khi đọc rồi cứ phải suy luận”. Trong “Bức tranh quê” bà đã tỏ rõ quan điểm nghệ thuật của mình. Bà viết:
“Mụ bán cá đặt thúng ngồi chửi đổng
Chị hàng rau mất chỗ chạy lon ton”.
(Họp chợ)
Để có những vần thơ gần với đời sống thực, thậm chí rất khó phân biệt với ngôn ngữ nói thường ngày ở vùng quê như cách mà Anh Thơ đã làm, chỉ có thể xảy ra ở ba trường hợp. Thứ nhất là đối với những người đang tập tọng làm thơ, vốn ngôn ngữ thơ còn hạn chế, nên vớ được từ nào viết ra từ ấy. Những bài thơ loại này ít khi trở thành tác phẩm có giá trị nghệ thuật. Thứ hai là đối với những người đã đi hết đường của sự cầu kỳ, rối rắm, để trở về sự giản dị đến trong sáng, thuần khiết, giống như “nói zậy mà hổng phải zậy”, giống như kể mà không phải kể, nhưng lại đích thực là thơ. Thứ ba là đối với những người bẩm sinh đã có khiếu “nói đây chết cây Hà Nội”, tưởng chừng như giản dị, đời thường mà hóa linh diệu, cao siêu. Có lẽ nữ sĩ Anh Thơ thuộc trường hợp thứ ba chăng?
Ngoài óc quan sát tinh tế, cách dùng ngôn từ của Anh Thơ cũng rất riêng, giản dị mà gợi, đặc tả được tính cách của người buôn bán nhỏ, không vừa ý, bằng lòng điều gì là “mụ” buột ngay ra miệng, không kìm giữ nổi, nên với mụ “chửi đổng” là chuyện thường tình, cũng chẳng khác nào cảnh mẹ Trường Thi mất gà trong “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan. Còn người bán rau, Anh Thơ gọi là “chị hàng rau” dường như nữ sĩ đã bắt đúng “vị thế” xã hội của chị ấy. Có lẽ vì bán rau thì vốn ít, lời lãi chẳng được bao, nên khi mất chỗ đâu dám chửi mà chỉ im lặng “lon ton” đi tìm chỗ khác. Hai câu thơ chỉ cần sáu chữ: “mụ”, “chị”, “chửi đổng”, “lon ton” là đủ để nói lên được tất cả. Đấy chính là cái tài của Anh Thơ.
Nghệ thuật dùng từ của Anh Thơ kiểu như vậy không phải là hiếm trong “Bức tranh quê” và cũng không giống với nhiều người của phong trào Thơ Mới lúc bấy giờ. Chính sự khác biệt ấy đã làm nên một nghệ hiệu Anh Thơ, không trộn lẫn vào đâu được. Thơ ca nói riêng, nghệ thuật nói chung, thời nào và ở đâu cũng chuộng cái riêng mang tính nghệ thuật cao. Vì thế trong khi người ta lao vào những cuộc tình tan vỡ, nhưng nỗi buồn của các cậu ấm, cô chiêu, những mộng mơ mây, gió, trăng, hoa, những tháp ngà cô liêu và lạnh giá, những gã trưởng giả học làm sang sặc mùi son phấn, thì Anh Thơ lại tìm đến với cái mộc mạc, đời thường nơi thôn dã. Đấy là một cách chọn lựa vừa rất đúng đắn, vừa rất khả dụng của nữ sĩ tài hoa này.
Đến những cuộc tình chới với
Số phận thật trớ trêu, một người con gái đa tài như Anh Thơ lại sớm vướng bận vào tình duyên, để rồi kết cục là một chuỗi những ngày buồn bất tận, mà không rõ nguyên cớ từ đâu, chỉ còn biết gọi đấy là duyên số mà thôi. Những cuộc tình của nữ sĩ Anh Thơ là trường hợp độc nhất vô nhị. Ngay từ khi còn là một cô gái cho đến cuối đời, nữ sĩ đã trải qua tất cả 6 mối tình chính thức, như bà kể lại trong ba tập hồi ký vào những năm tháng cuối đời. Bắt đầu là anh sinh viên Trường cao đẳng Luật, đến một văn sĩ nổi tiếng trên văn đàn thời bấy giờ, có tên B, rồi thi sĩ Cẩm Văn, ông tiến sĩ người Đức, nhà thơ Xuân Diệu và cuối cùng là bác sĩ Dinh.
Từng ấy mối tình đè nặng lên vai người con gái Kinh Bắc đủ biết bà là người không chỉ đa tình, mà con nhọc nhằn lặn lội trên con đường tình đến nhường nào. Đành rằng với bất kỳ một người phụ nữ nào, cái sự đa tình đâu có tội tình gì. Đành rằng tình duyên ai chả phải vượt qua nhiều cung bậc, lắm cảm xúc, qua tám núi, chín đèo, nếm trải những trái ngang, đớn đau có khi còn tuyệt vọng... Âu đấy là dư vị của tình yêu. Nhưng với nữ sĩ Anh Thơ dường như đã vượt ra ngoài khuôn khổ ấy, nhiều khi đẩy đối tác vào những tình huống hết sức oái ăm, khiến bà chỉ còn cách vò đầu, vỗ gối mà kêu trời như Đại thi hào Nguyễn Du đã từng làm cách đây hàng trăm năm: “Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” (Truyện Kiều), mà phải sau này bà mới thổ lộ trong ba tập hồi ký của mình.
Theo lời kể của chính Anh Thơ trong tập hồi ký “Từ bến sông Thương” thì bà khởi nghiệp tình lần đầu tiên với một chàng sinh viên Trường cao đẳng Luật. Cũng lần đầu tiên ấy, anh ta đến tận nhà cô gái Vương Kiều Ân để tỏ tình, thì ngay lập tức đã bị một gáo nước lạnh của bà nội từ trong buồng bước ra dội thẳng vào mặt: “Gia phép nhà tôi không cho phép trai gái tự do gặp nhau. Nếu muốn lấy cháu tôi thì phải về nói với bố mẹ, để bố mẹ có manh mối hẳn hoi, mang lễ đến chạm ngõ cẩn thận, thì mới được thấy mặt cháu tôi”. Thế là chàng sinh viên xấu hổ bỏ chạy một hơi không sủi tăm nữa.
Nhưng Anh Thơ, ngay từ khi thành thiếu nữ đã ôm mộng kết tình với một người cũng yêu thơ và làm thơ như mình. Vậy là, mối tình thứ hai là thông qua người anh con ông bác ruột của nữ sĩ, nhà thơ B đã chủ động gửi những lời tỏ tình nồng thắm tới nữ sĩ Anh Thơ. Hai người từng đoạt giải thưởng thơ của Tự lực văn đoàn với những vần thơ hay viết về thôn quê. Thời gian đầu nữ sĩ cảm thấy thực sự thăng hoa trong mối tình với thi sĩ Cẩm Văn. Nào ngờ, B quan niệm rằng: “Tình yêu thì cần gì phải mối lái, cưới xin? Sao em không nghĩ yêu nhau thì theo nhau…”. Vậy là một người con gái con nhà gia giáo như Anh Thơ, vừa cảm thấy thất vọng, vừa hoảng sợ vì cách nghĩ thẳng tưng cùng những cử chỉ sàm sỡ của B.
Thế rồi một hôm, Anh Thơ bỗng chết lặng khi vừa đến cơ quan của Cẩm Văn, cô gái bắt gặp một người đàn bà khác đang ngồi lả lơi bên cạnh chàng trong phòng làm việc tại một nhà xuất bản ở phố Nguyễn Du. Mặc dù, thi sĩ Cẩm Văn đã có màn chào hỏi khá ấn tượng và đã thành công lễ chạm ngõ, nhưng Anh Thơ không thể chịu nổi cảnh tượng ấy, bà vụt chạy một mạch như ma đuổi. Thế là đất trời bỗng dưng nghiêng ngã, ảo mộng tìm một người yêu là thi sĩ bỗng tan thành mây khói.
Từ ngày đi theo cách mạng, có lần bà được tổ chức “vận động” lấy một ông tiến sĩ người Đức, bấy giờ đang làm việc trong quân đội ta. Bà sẵn sàng chấp hành yêu cầu của tổ chức, nhưng trớ trêu thay, sau đó tổ chức cân nhắc lại và quyết định dừng “cuộc tình” này, khiến Anh Thơ cảm thấy thất vọng.
Nhà thơ Xuân Diệu có thời cũng mang lòng yêu nữ sĩ và muốn kết hôn cùng bà, nhưng sau một thời gian suy đi tính lại, ông đã viết thư cho Anh Thơ xin được từ bỏ ý định trên vì “tôi không muốn làm khổ đời chị; vì chị lấy tôi sẽ không hạnh phúc đâu”. Đương nhiên là chuyện ấy dường như chỉ diễn ra từ phía Xuân Diệu, còn nữ sĩ Anh Thơ chỉ biết lẳng lặng mà ra đi.
Vì muốn trả món nợ ân nghĩa cho bác sĩ Bùi Viên Dinh hơn là vì tình yêu đôi lứa, nữ sĩ Anh Thơ đã quyết định đến với ông kết duyên chồng vợ. Những tưởng mọi việc rồi sẽ xuôi chèo mát mái, nào ngờ bà lại cắt bỏ dạ con trước khi sinh, nên đã khiến đôi bạn đời sống cô quạnh cho đến già, mà trong nhà vẫn thiếu tiếng cười con trẻ.
Xem ra một phụ nữ đa tài, đa tình và cũng đa đoan như nữ sĩ Anh Thơ ở thế gian này không có nhiều. Dù tình duyên có trái ngang, nhưng Anh Thơ là người phụ nữ có nghị lực phi thường, đã vượt qua tất cả để hiến dâng cho đời những tác phẩm thấm đẫm tình người và trở thành một thi sĩ lớn trong làng văn Việt.

Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2016

Điểm diện nhà văn nhà thơ 39: Nguyễn Kiên




39. Nguyễn Kiên
     (1935-1914)

Anh Keng cưới vợ tháng mười
Những đứa con lại ra đời tháng năm
Trong làng kháo chuyện rì rầm
Vụ mùa chưa gặt thóc đã nằm đày kho
                              Xuân Sách

NGUYỄN KIÊN
Nhà văn khiêm nhường

TRẦN HIỆP

NVTPHCM- Mấy chục năm chơi với nhau chưa một lần anh nói hay về mình mà chỉ ca ngợi bạn bè. Anh là một nhà văn thực sự khiêm nhường…

Cuối năm 2013 tôi bị ốm nặng tưởng không qua khỏi, anh Nguyễn Kiên còn gọi điện thoại động viên tôi cố gắng vượt qua. Gần Tết Nhâm Ngọ tôi nhúc nhắc đi lại được nên gọi điện thoại thăm anh thì vợ con anh cho biết anh bị cấp cứu vào viện. Sau đó tôi thường xuyên giữ liên lạc với gia đình anh cho đến rằm tháng Giêng thì có tin anh bị nặng hơn phải chuyển đến cấp cứu tích cực… Thế mà hôm nay…  Mất anh, tôi không chỉ mất một bạn văn nhiệt tình chu đáo mà gần 50 năm qua tôi coi anh như một người ruột thịt.
Tôi quen anh Nguyễn Kiên trong tình huống khá đặc biệt. Năm1967, cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ, nhất là ở Thanh Hóa diễn ra không chỉ ác liệt mà quá khốc liệt. Từ sau thất bại nặng nề trận đầu đánh phá cầu Hàm Rồng không thành, phải nộp mạng 47 máy bay hiện đại các loại, giặc Mỹ như tên khùng đánh phá vào khắp các vùng đất Thanh Hóa, nhất là suốt dọc đường số Một từ khe Nước Lạnh đến Dốc Xây, mà điểm tập trung là cầu Hàm Rồng, bến phà Ghép, cầu Đò Lèn, ngày nào đêm nào cũng có thương vong hầu hết là những người già, trẻ em, học sinh, nhiều xóm làng tan nát vì bom đạn Mỹ. Dạo ấy đang nổi lên tấm gương anh dũng hy sinh của anh hùng liệt sĩ Mai Xuân Điểm và tập thể cán bộ công nhân bến phà Ghép anh hùng không quản mưa bom bão đạn băng mình cho phà chở xe pháo qua sông. Là phóng viên báo địa phương chuyên viết về chiến đấu và giao thông vận tải nên tôi trở thành “thổ công” của những địa danh đang nóng bỏng ở đây.
Mùa hè năm năm ấy không chỉ nóng vì chiến tranh mà còn nóng gay gắt vì thời tiết khắc nghiệt, không khí khá oi nồng ngột ngạt, tôi đang làm việc với lãnh đạo ty Giao thông vận tải thì nhân viên hành chính đưa một thanh niên dắt xe đạp vào và giới thiệu đây là nhà văn Nguyễn Kiên đi thực tế ngành giao thông vận tải. Tôi nhìn qua nhà văn và thầm nghĩ: “Tác giả truyện ngắn “Anh Keng” đây rồi.” Được đi thực tế với các nhà văn trung ương là dịp may, tôi tình nguyện làm hướng dẫn viên cho anh Kiên, Với việc này tôi cũng đã quen làm trong các chuyến cùng đi với các anh Võ Huy Tâm, Nguyễn Bao, Thép Mới, Xich Điểu, cụ Huyền Kiêu… Anh Kiên rất ít nói, đến đâu anh cũng dành cho tôi hỏi còn anh thì nghe và ghi chép. Hai anh em hai cái xe đạp cọc cạch dưới trời nắng chang chang, anh Kiên xắn cao hai tay áo nên phỏng rộp, da bóc đi từng mảng, tôi bảo anh bỏ tay áo xuống, anh cười và nói: để thế khi về Hà Nội cho em nó thương. Chúng tôi lội khắp ba bến phà Ghép trong tình hình chốc chốc lại có một trận bom, thật ra là bom đạn tránh mình chứ mình không biết đâu mà tránh bom đạn. Xong công việc trò chuyện với cán bộ, công nhân và nhân dân hai đầu các bến phà, chúng tôi lại lọc cọc đạp xe lên Vĩnh Lộc, quê hương của các chúa Trịnh và anh hùng Cần Vương chống Pháp Tống Duy Tân, cũng là quê hương của anh hùng liệt sĩ Mai Xuân Điểm để được trò chuyện với bố mẹ anh, vợ con anh và thăm ngôi mộ của anh cất ngay dưới chân núi Đa Bút lịch sử. Nguyễn Kiên nhỏ bé, gầy gò, tôi tưởng anh đi nhiều sẽ mệt mỏi lắm, nhưng không, đến nơi dựng xe là anh lao vào việc không chỉ quan sát rất kỹ từng khuôn mặt, từng khung cảnh mà anh còn ghi chép khá tỉ mỉ, nhiều lúc anh ngồi thừ ra suy nghĩ về những gì anh vừa thấy vừa nghe.
Một đêm nghỉ lại nhà tôi ở gần bến phà Ghép, thấy dân làng ở đây bất chấp bom đạn và đã có nhiều người hy sinh nhưng bà con vẫn bám đất sản xuất và phục vụ giao thông vận tải, anh thốt lên: Liệu người nước ngoài có hiểu được chí khí dân mình? Anh hùng tuyệt vời! Đêm ấy, vợ chồng tôi và anh Kiên chỉ chợp mắt được đôi chút vì bom đạn đì đùng suốt đêm. Sáng hôm sau, trước khi đi anh Kiên hỏi vợ tôi: Chị có thiếu thốn gì cứ nói, về Hà Nội nếu có thể mua được tôi sẽ gửi vào. Vợ tôi nghĩ mãi mới nói nhỏ nhẹ: Thời chiến cái gì cũng thiếu, nhưng rồi cũng xoay xở được, nhưng có vài thứ xoay không ra. Về Hà Nội, nếu có thể được anh gửi cho em xin vài cái kim và một cuộn chỉ để vá quần áo cho các cháu, chúng lăn lê lên hầm xuống hầm cả ngày quần áo rách bươm cả.
Cũng như các lần đi thực tế với các nhà văn khác, lần này anh Kiên trò chuyện với tôi nhiều điều bổ ích về công việc của một nhà văn mà chủ yếu là từ kinh nghiệm của các nhà văn mà anh ghi nhận được. Mấy chục năm chơi với nhau chưa một lần anh nói hay về mình mà chỉ ca ngợi bạn bè. Anh là một nhà văn thực sự khiêm nhường. Sau chuyến đi thực tế ấy, anh Nguyễn Kiên viết được tiểu thuyết “Chân sóng”, tôi viết được truyện ký “Người bến thép”. Chúng tôi trở nên bạn bè thân thiết từ đấy, anh in được cuốn sách nào cũng đem đến cho tôi và tôi in được tác phẩm nào cũng đem đến biếu anh. Có một kỷ niệm tôi không thể quên: Lần đi thực tế ấy không lâu tôi nhận được giấy báo của bưu điện mời đến nhận bưu phẩm. Đó là hai cuộn chỉ, một trắng, một đen và một tá kim khâu. Không chỉ vợ tôi mà cả tôi nữa thật sự xúc động về sự chu đáo của anh, nhà văn Nguyễn Kiên mà tôi hằng quý mến.


SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân