Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Độc Cầm khúc 3



                             Người tình yêu
                             Nhạc: Khuyết danh
                             Lời : Đỗ Đình Tuân
Muốn nhớ lại lời xưa nhưng không nhớ được  
Ca khúc đánh không lời cũng thấy vô duyên
Để Kim Thư vừa múa vừa phiền
Đình Tuân phải bịa thêm lời khác vậy. 

Khúc dạo nhạc 
La la fà la la sí la la fà la la mí rê si là sol fà sol sí la
Sol fà fà lá lá mì mì sol fa rề... 
Lời bài hát
 (Đỗ Đình Tuân bịa theo mang máng hồn vía của lời cũ) 
Người tình yêu bao tháng năm anh hằng mơ ước
Người tình yêu bao tháng năm anh từng nhớ mong
Tình thương nhớ nhớ thương nhớ thương nhớ thương nhau
Nhớ thương nhau bao tháng năm không hề phai thắm
Người tình yêu khi cách xa anh càng nhớ thương
Tình thương nhớ nhớ thương nhớ thương nhớ 
thương nhau nhớ thương nhau
Càng tha thiết càng tha thiết càng khát khao hòa cùng trái tim
Em ơi bao ngày anh nhớ mong hoài
Nay mai anh về cùng sống chung vui

                                      Sao Đỏ 8/12/2013



Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

Hỏi thợ cày





Thày T…là một thợ cày
Lại khuyên cái lão T...này nghỉ trâu
Thế thì mai mốt năm sau
Trâu già biết kiếm nghé đâu mà cày ?

8/12/2013
Đỗ Đình Tuân

Chí Linh phong vật chí (2)

                                                 Trang 1

   SỰ TÍCH TIÊN HIỀN HAI HUYỆN CHÍ LINH VÀ THANH LÂM

Năm Bính Tý, tức năm Bảo Đại thứ 11, tháng 3 nhuận, gia đình họ Đào Ngọc, xã An Lạc, phụng sao lục sự tích, tiên hiền huyện Chí Linh như sau:
Nguyên trước phủ nam Sách, kiêm lỵ hai huyện Chí Linh và Thanh Lâm. Đến năm Đồng Khánh thứ 2 (1)* mới chia làm hai huyện. Lại đến năm Thành Thái thứ 1 (2) *, huyện lỵ Chí Linh mới rời đến đồn Quy Sơn, xã Lạc Sơn.
Kẻ hậu học, nhân lúc hứng có vịnh bài thơ nôm như sau:
Phong cảnh Chí Linh lắm cảnh thay
Muốn theo nối gót chứa vần xoay
Chiếu lều nợ trả đành chờ hội
Áo mũ ơn ban “hẳn có ngày” (1)
Biển rộng biết bao đàn cá nhảy
Trời cao còn vạn giống chim bay
Của kho vô tận khi nào hết
Có phúc thời tiêu nọ “phải vay” (2)

Bảng lục quán chí các vị tiên hiền huyện Chí Linh

Xã Long Động:  1 trạng nguyên, 2 tiến sĩ
Xã Sác Khê:       1 trạng nguyên, 1 tiến sĩ
Xã Phụ vệ:                                    6 tiến sĩ
Xã An Ninh                                  5 tiến sĩ
Xã Linh Giang                              2 tiến sĩ
Xã Đáp Khê                                  2 tiến sĩ
Xã Mật Sơn                                   2 tiến sĩ
Xã Chí Linh                                  2 tiến sĩ
Xã Hộ Xá                                      5 tiến sĩ
Xã Cổ Châu                                  1 tiến sĩ
Xã Mặc Động                               2 tiến sĩ

Ghi chủ trang 1:
(1)*-Năm Đồng Khánh thứ 2: 1887- chia chí linh cổ thành 2 huyện
(2)*-Năm Thành Thái thứ 1:   1889- huyện lỵ Chí Linh chuyển về đồn Thiên 
                             (Đỗ Đình Tuân chú thêm)
(1) và (2) trong bài thơ của “kẻ hậu học” trong nguyên bản không có chữ vì giấy nát, chúng tôi thêm theo ý tác giả để được trọn bài thơ (ND: tức Nguyễn Huy Đại và Nguyễn Thanh Giản-Đỗ Đình Tuân chú thêm)  

                                         Trang 2

Xã Lạc sơn         3 thám hoa và tiến sĩ
Xã Kiệt Đặc                                  6 tiến sĩ
Xã Tu Linh                                   1 tiến sĩ
Xã Triều Dương                            6 tiến sĩ
Xã Hà Liễu                                    1 tiến sĩ
Xã Đột Lĩnh                                  2 tiến sĩ
Xã Trực Trì                                   3 tiến sĩ
Xã Phao Sơn                                 1 tiến sĩ
Xã Ngô Đồng                               1 Tiến sĩ   (1)

                     CHÍ LINH BÁT CỔ

Nhà cổ trạng nguyên:
Ở xã Ninh Khê, nguyên trước là văn từ huyện Chí Linh, nay ở địa phận Xã Tống Xá.
Nhà cổ Thưởng tể:
Đền Quốc Phụ xã Kiệt Đặc
Nhà cổ Tiều Ẩn:
Điện Phượng Hoàng xã Kiệt đặc
Thành cổ Chí Linh:
Đồn Phao Sơn
Vườn cổ Dược Lĩnh:
Ở đền Kiếp Bạc
Động cổ Vân Tiên:
Chùa Huyền Thiên xã Kiệt Đặc
Bến cổ Nhạn Loan:
Bến Triều, xã Triều Dương
Tháp cổ Tinh Phi:
Ở núi Huyền Đinh (Nay là núi Trì Ngư) xã Kiệt Đặc

             SỰ NGHIỆP CÁC TIÊN HIỀN HUYỆN CHÍ LINH

TRIỀU LÝ:
Năm Quáng Hựu thứ 2(Nhân Tôn đặt ra khoa thi tiến sĩ, khoa thi này bắt đầu từ đấy)

Ghi chú trang 2
(1) từ Lý Trần đến nay(Bảo Đại thứ 11-1936), số người đỗ tiến sĩ có 55 người. Còn người đậu Hương cống hay vó quan thì không kể xiêt. ( Nhưng cộng vào chỉ được có 54? 3 tổng Nam Hà(thuộc Nam Sách ngày nay) có 25 và 4 tổng Bắc Hà(thuộc Chí Linh ngày nay có 29-Đỗ Đình Tuân chú thêm)

8/12/2013
Đỗ Đình Tuân

Chí Linh phong vật chí (1)



                         CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                                      Độc lập – Tự do – Hạnh phúc











 CHÍ LINH
   PHONG VẬT CHÍ



                                        Nguyễn Huy Đại và
                                        Nguyễn Thanh Giản dịch








       



                           TY VĂN HÓA HẢI HƯNG
                   THƯ VIỆN KHOA HỌC TỔNG HỢP
                                     - 1976  -

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

Ra mắt cuốn sách THƠ NGUYỄN PHI KHANH


          
                                      


Nguyễn Phi Khanh là một nhà giáo, nhà thơ, một quan chức nếm trải nhiều bi kịch lớn trong cuộc đời. Đầu tiên là bi kịch của người tri thức bị phân biệt đối xử của chế độ phong kiến chuyên chế cuối thời Trần. Ông đỗ tiến sĩ từ năm 19 tuổi, nhưng suốt thời Trần ông không được bổ dụng. Mãi sang thời Hồ, khi ông đã 45 tuổi ông mới được bổ dụng làm quan. Cuộc đời quan lộc của ông cũng rất ngắn ngủi. Khi nhà Hồ bị quân Minh đánh bại ông trở thành tù binh và bị đày ải cho đến khi chết ở bên nước Minh. Nhưng ông đã sinh thành và dưỡng dục được nhiều nhân vật lịch sử có đóng góp tích cực và đáng kể trong lịch sử dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Nhữ Trạch, Nguyễn Nhữ Soạn.
Đầu năm 2011, tôi bắt đầu có ý định tìm hiểu về Nguyễn Phi Khanh. Cũng với một mục đích rất giản dị: làm một chương trình tọa đàm và thưởng thức một số bài thơ của Nguyễn Phi Khanh cho CLB thơ hội CGC Chí Linh. Nhưng CLB thơ CGC Chí Linh chỉ hoạt động được đến tháng 5/ 2011 thì bị giải thể đưa về hoạt động ở các hội cơ sở.
Nhưng đề tài tìm hiểu về Nguyễn Phi Khanh thì tôi vẫn tiến hành bình thường. Sau khi dịch xong thơ Trần Nguyên Đán, trong khoảng hai tháng 4 và 5 năm 2012, tôi bắt đầu dịch thơ Nguyễn Phi Khanh. Dịp cuối năm ấy, khoảng 20/10/2012, tôi cùng với một nhóm thành viên của TRI ÂN CUỘC ĐỜI lên viếng mộ cụ Nguyễn Phi Khanh Trên núi Báo Đức (Hoa Thám, Chí Linh).
Sau đó là thời gian tôi vừa chỉnh sửa bản dịch vừa tra cứu lịch sử để viết bài giới thiệu thơ Nguyễn Phi Khanh. Ngày 2/7/ 2013 thì bài viết “Đọc thơ Nguyễn Phi Khanh” hoàn thành. Tháng 8 năm 2013 cuốn sách được giới thiệu với vài nhà xuất bản. Bạn bè giúp đỡ cũng có thiện chí muốn tìm một hình thức xuất bản “nhẹ gánh” cho tác giả. Nhưng tất cả các Nhà xuất bản đều lắc đầu vì tình hình sách bây giờ ế ẩm lắm, không mấy người mua.
Đến cuối tháng 9/2013, Nhà Xuất bản Lao Động nhân xuất bản với điều kiện tác giả tự bỏ vốn và tự tiêu thụ. Cũng may trong túi tôi lúc ấy có tích cóp được một khoản tiền nho nhỏ. Thế là tôi quyết định đầu tư cho cuốn sách với điều kiện sách phải ra được trước ngày giỗ cụ Nguyễn Phi Khanh (5/11/Quý Tỵ- 7/12/2013)
Theo cam kết thì ngày 5/12/2013 sách sẽ về Sao Đỏ. Nhưng tiến độ bị chậm mất nửa ngày. Khoảng nửa buổi sáng nay (6/12) sách mới về đến Sao Đỏ. Nhưng dù sao vẫn là kịp thời vì ngày mai mới là ngày giỗ cụ Nguyễn Phi Khanh. Theo truyền ngôn trong dòng họ thì cụ mất năm 1418 lúc ấy mới 63 tuổi và lần giỗ này đã là lần giỗ thứ 595. Xin được xem việc này như một nén tâm hương để tưởng niệm và tri ân cụ.

6/12/2013
Đỗ Đình Tuân

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

Hồi ức với cây đàn 3


                             Kỳ 3: Tái đàn

Tôi biết chơi đàn từ năm 11 tuổi. Bỏ chơi đàn từ năm 14 tuổi và tái đàn vào năm tròn 60 tuổi. Do bỏ chơi lâu và tái đàn vào lúc tuổi đã cao nên cũng gặp một số khó khăn. Tay chân bây giờ cứ cúng quèo quèo. Tiếng đàn vì thế nghe cứ rời rạc và cứng đơ đơ. Nhưng tôi nghĩ đó là một sự vô lý: tại sao với những bài mình đã từng đánh rồi, thậm chí đánh rất thạo rồi mà nay lại không đánh lại được? Thế là đầu tiên tôi cứ tập lại những bài trước đây tôi đã từng đánh. Cố nhiên là có quên. Nhưng chủ yếu là quên phần lời. Quên rất nhiều. Thậm chí có bài gần như quên hết lời, chỉ bập bõm nhớ được một vài câu. Duy nhất có bài tủ “Hò thương binh” là nhớ được cả lời và nhạc. Nhưng phần nhạc thì cứ cầm đàn đánh thì tự nhiên lại nhớ ra. Cho nên dần dần tôi cũng đánh được hầu hết các bài cũ. Cái tay cũng dẻo dần và tiếng đàn cũng bớt đi phần rời rạc.
Tôi bắt đầu nghĩ tới việc thử đánh những bài nhạc dài và khó như Sông Lô (Văn Cao), Người Hà Nội (Nguyễn Đình Thi)… Chỉ lâu công thôi chứ cuối cùng cũng đánh được. Nhưng vì mù nhạc nên chỉ bắt nạt được những bài mình đã nghe quen. Chứ bài lạ thì chịu. Nhưng ngay cả với những bài đã nghe quen ấy đánh được cũng không đơn giản. Vẫn phải luyện, vẫn phải tập
         Bài hát đã quen phím đàn đã thuộc
Mà lần dò từng nốt khó khăn ghê
Nhưng lúc đàn xong bản nhạc
Thấy lòng mình thức dậy nỗi đam mê…
     (Trích bài Tái đàn viết 7/1/ 2002)
Thấy tôi vừa có đàn lại biết đánh đàn, các cụ trong xóm lôi tôi vào đội văn nghệ của các cụ. Nhưng trình độ tay đàn không đồng đều nên cũng không hòa tấu được. Nhất là các cụ lại đã quên quên nhớ nhớ nên câu trước khớp thì câu sau lại lỗi. Vì thế muốn hòa tấu được một bài phải tốn nhiều công lắm. Mà kết quả chưa hẳn đã chắc chắn. Tôi cũng thử cùng các cụ đi biểu diễn hòa tấu một vài lần nhưng đều thất bại. Bới tâm lý biểu diễn bây giờ không tốt, thậm chí rất không tốt.Cứ lên sân khấu là tim lại bồi hồi. Mà tim đã bồi hồi thì cái tay vê bị cứng đơ ra. Thậm chỉ gẩy không còn vào dây nữa. Thế là tiết mục biểu diễn lại gẫy. Lại được một chuyến làm trò cười cho thiên hạ. Lâu dần các cụ cũng chán không đàn địch gì nữa. Còn tôi thì cũng cứ treo cây đàn đấy, năm thì mười họa mới độc cầm một vài bài. Đến năm nâng cấp lại nhà (2010) cây đàn bị vứt giữa đống đồ vật ngồn ngang ngoài mưa nắng. Đến khi làm xong nhà thì cây đàn cũng hỏng không còn dùng được nữa. Thế là tôi lại bỏ đàn lần thứ hai.

4/11/2013
Đỗ Đình Tuân

                    

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Rỉ tai



Trông ông phốp pháp hồng hào
Lại say văn nghệ mà sao bỏ đàn
Để cho bà xã phàn nàn
Phím long ngựa ngả dây đàn không căng
Hỏi ông ông mới kể rằng
Yếu người hổng dám nói năng đến đàn
Chỉ lo phím rỉ dây han
Đến khi hồi sức liệu đàn được không
Chân tình tôi rỉ tai ông
Không năng vê gẩy là không thể đàn.

1/12/2013
Đỗ Đình Tuân

SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân