Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

Danh nhân nho sĩ viết về Chí Linh 13



                                   Vũ Phạm Hàm
                                      (1864-1906)                     

            Vũ Phạm Hàm, tự Mộng Hải, hiệu Th­ư Trì, ngư­ời làng Đôn Th­ư, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, nay thuộc tỉnh Hà Nội. Ông thuộc dòng dõi nhà nho thanh bạch. Năm 13 tuổi đã đi thi nh­ưng không đỗ. Sau đó ông đ­ược quan đốc học tên là Vũ Nhự chú ý  và nhận nuôi dạy. Năm năm sau, ông đư­ợc vào làm quan trong kinh đô Huế, theo học quan Nam Ng­ư Phạm Hy Lư­ợng. Đến năm Kiến Phúc, ông vào thi hư­ơng đỗ Giải nguyên khoa Giáp Thân(1884). Năm sau thi hội lại hỏng. Mãi đến năm Thành Thái thứ 4, khi đang làm Giáo thụ ở Kiến Thụy (Hải Phòng ngày nay), ông lại đi thi Hội, đậu Hội nguyên khoa Nhâm Thìn; Sau đó vào thi Đình, ông lại đậu Đệ nhất giáp tiến sĩ, đệ tam danh, tức Tam nguyên thám hoa. Sau khi đỗ đại khoa, ông lần l­ượt đư­ợc giữ các chức quan: Đốc học Hư­ng Hóa, Đốc học Hà Nội, sung Đồng văn quán, làm Đốc biện Đại Nam đồng văn nhật báo. Sau thăng đến An sát H­ưng Hóa rồi An sát Hải D­ương.
            Tư­ơng truyền khi làm án sát Hải Dư­ơng, có tên công sứ Pháp thích chơi hoành phi câu đối, vốn biết ông là bậc danh nho mới xin một bức làm kỷ niệm. Ông đã cho hắn 4 chữ : “Ôn kỳ nh­ư ngọc”, lấy chữ trong Kinh thi, thiên Tần phong:
                   Ngôn niệm quân tử ôn kỳ nh­ư ngọc
               (Mến ng­ười quân tử ôn hòa nh­ư ngọc quý)
            Chủ tâm ông Thám muốn lấy điển Tần phong là thơ khen người rợ phư­ơng tây để tặng công sứ Pháp. Thâm ý của ông thật là sâu sắc và kín đáo: ám chỉ bọn Pháp chỉ là mọi rợ như­ Tây Nhung khi x­ưa ở bên Tầu.Viên công sứ Pháp tất nhiên là chẳng hiểu gì. Hắn trịnh trọng treo bức hoành phi sơn son thiếp vàng gi­ữa nhà khách. Nh­ưng không may cho ông Thám, có một viên quan vốn bất bình với ông, nhân một dịp vào yết kiến quan công sứ, đứng ngắm nhìn bức hoành phi, khen kiểu chữ đẹp chữ tốt, rồi trầm ngâm gật đầu nói khẽ:
            -Bốn chữ này tuy là khen tặng nh­ưng có bao hàm ý giễu cợt quan lớn thì phải.
            Viên công sứ ngạc nhiên bảo cắt nghĩa,viên quan đó nói:
            -Ngọc đây nói bóng là ngọc hành, mà ngọc hành là “cái ấy” quan lớn hiểu chư­a, không tin quan lớn cứ hỏi mọi ng­ười thì rõ.
            Sau đó, viên công sứ gặp ai cũng chỉ vào đũng quần hỏi: cái này là cái gì? Nh­ưng không ai dám nói thật ra cả.Viên công sứ giận sôi lên sùng sục. Hắn bèn cho trẻ đôi bức hoành phi và tìm ông Thám để trách cứ.Từ đó ông bị nó làm khó dễ trong công vụ. Ông cáo quan về nghỉ .Về quê, ông mở trư­ờng dậy học. Học trò các nơi về học rất đông và nhiều ngư­ời thành đạt. Năm 1906 ông bị bệnh và mất tại quê nhà.
            Vũ Phạm Hàm có để lại các tập thơ, văn chữ Hán nh­ư: Kinh sử thi tập, Tập Đ­ường thuật hoài, Thám hoa văn tập...và một bài Hư­ơng Sơn phong cảnh bằng chữ Nôm.
            Với Chí Linh, ông để lại đôi câu đối hết sức nổi tiếng ở đền Kiếp Bạc:
            萬刧有山皆剑氣                                   
            六頭無水不秋聲
            Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí
            Lục Đầu vô thủy bất thu thanh
            (Tất cả những núi ở Vạn Kiếp đều mang hơi kiếm;
            Nước sông Lục Đầu chỗ nào cũng có tiếng thu)
            Một lời dịch thường gặp của câu đối này là:
            Vạn Kiếp núi lồng hình kiếm dựng;
            Lục Đầu sông dậy tiếng quân reo.
                                                          (Không rõ dịch giả)
           Nhưng lời dịch này thật ra chưa ổn. Ở vế trên “Kiếm khí” sao lại có thể dịch là “hình kiếm dựng” ? Bởi “khí” tức là hơi, một thứ năng lượng vô hình như sức mạnh tinh thần, như uy thế toát ra chứ sao lại “dựng hình lên” . Vả lại, núi Vạn Kiếp đều là những ngọn đồi thấp chứ đâu có nhọn hoắt trùng điệp gì để gợi ra hình ảnh của những mũi kiếm? Chẳng qua đây chỉ là hình ảnh mang tính biểu tượng. Còn ở vế dưới “thu thanh” (tiếng mùa thu) mà dịch thành “tiếng quân reo” thì hơi xa chữ gốc, và nhất là dịch thế chưa chắc đã đủ nghĩa do hai chữ "tiếng thu" gợi ra.
            Vậy thì “thu thanh” (tiếng thu) phải hiểu như thế nào cho ổn? Chính vì hai chữ “thu thanh” khó giải mã này mà nhiều thức giả đã phải tranh cãi với nhau kéo dài đến hàng nửa thế kỷ mà cơ hồ vẫn chưa có hồi kết. Đại để cũng chia ra làm hai phái chính. Phái phản bác thì cho “thu thanh” là sai, mà đúng ra thì phải là “thung thanh” hoặc “trang thanh” ( tiếng đóng cọc gỗ, tiếng khua gươm giáo…). Cực đoan có người còn đề nghị đục bỏ chữ “thu” để đắp chữ “thung” hoặc chữ “trang” vào. Phái bênh vực thì vẫn tôn trọng nguyên trạng là “thu thanh”, nhưng hiểu “thu thanh” là tiếng mùa thu theo tinh thần của bài Thu thanh phú của Âu Dương Tu bên Trung Quốc:
            Âu Dương Tu  ban đêm đọc sách
             Nghe tiếng kêu từ vách Tây Nam
             Lạ thay : thoạt mới rì rầm,
             Vi vu rồi chợt sầm sầm vang xa
             Như sóng nước bao la kinh động
              Ðêm gió mưa thổi lộng ngàn cây
              Tiếng vàng, tiếng sắt đâu đây
              Ðoàn quân lớp lớp bao vây đổ về
              Chẳng ai thấy ai nghe hiệu lệnh
              Vó ngựa phi khấp khểnh đường trường...
                                           (Theo bản dịch của Hà Thương Nhân)
            Những người thợ cày làng tôi, lớp tuổi bố tôi ngày trước, đôi khi cũng mang ra đàm đạo về câu đối này. Những buổi đi đón trâu, nghe lỏm chuyện các cụ tôi thấy các cụ lại hiểu “thu thanh” là “tiếng mùa thu”, với ý nghĩa là mùa thu trẩy hội đền Bạc. Bởi ngày xưa, giao thông cách nhỡ, thường chỉ có dân quanh vùng là đi lễ đền Bạc bằng đường bộ. Còn dân thập phương chủ yếu đi bằng thuyền. Vì thế cứ vào dịp hội đền tháng tám là dòng sông Lục Đầu nô nức, náo nhiệt hẳn lên. Ban ngày thì trên bến dưới thuyền nhộn nhịp, ban đêm thì đèn đuốc như sao sa, thật là ấn tượng. Hình ảnh con sông Lục Đầu những mùa trẩy hội (Tháng tám giỗ cha) ấy vừa là biểu hiện cụ thể của lòng tri ân, lòng yêu nước của nhân dân ta, mà cũng rất gợi cái không khí những cánh quân ngày trước, từ khắp các nơi trong nước đổ về đây để chờ lệnh đi đánh giặc. Cái “tiếng thu” các cụ hiểu lại là như vậy. Rất có thể đây mới là cái "tiếng thu" của Lục Đầu, Vạn Kiếp chăng? Thế nên, với cặp câu đối trên, nếu cần dịch thì chỉ nên dịch là:
                 Núi Vạn Kiếp đều mang uy kiếm
                 Sông Lục đầu đâu chẳng tiếng thu.

27/10/2012
Đỗ Đình Tuân


Phụ chép:

                          Một chữ, nửa thế kỷ tranh cãi



Trong tâm thức người Việt, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã trở thành bậc hiển thánh, được lập đền thờ nhiều nơi. Sớm nhất phải kế đến đền Kiếp Bạc ở xã Vạn Kiếp, nay là xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, Hải Dương, nơi gắn liền với chiến thắng Bạch Đằng giang lừng lẫy. Đền được xây dựng từ năm 1300, ngay sau khi Trần Hưng Đạo tạ thế. Đến những năm đầu thế kỷ XX, hai bên cổng đền có khắc thêm đôi câu đối:
Vạn Kiếp  hữu sơn giai kiếm khí, 
Lục Đầu vô thủy bất thu thanh
Dịch nghĩa:
Vạn Kiếp có ngọn núi nào thì đều vương hơi gươm kiếm
Lục Đầu không con nước nào không vang tiếng đao binh
Đôi câu đối này cũng đồng thời được khắc trước đền thờ Trần Hưng Đạo tại số 36, đường Võ Thị Sáu, Q.I, TP Hồ Chí Minh. Tác giả của đôi câu đối là Tam nguyên Vũ Phạm Hàm, đậu Thám Hoa nhưng thực chất là Thủ khoa (Đình Nguyên), giành học vị đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ khoa thi Đình đời vua Thành Thái năm thứ tư (năm 1892, khoa thi này không lấy Trạng Nguyên và Bảng Nhãn). Đỗ đồng khoa, xếp danh liền sau Vũ Phạm Hàm là Nguyễn Thượng Hiền, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) và Chu Mạnh Trinh đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân.
Từ khi ra đời đến nay, đôi câu đối của bậc đại khoa vẫn được đánh giá là "ngắn gọn, cô đọng, nhưng đã thể hiện được khí phách oai hùng của những trận chiến chống quân Nguyên xâm lược, còn vang vọng mãi đến tận hôm nay làm cho chúng ta thêm tự hào và phấn chấn".
Thế nhưng, trong hơn nửa thế kỷ, kéo dài cho đến tận hôm nay, chữ "thu thanh" trong vế đối thứ hai vẫn là nguyên nhân cho nhiều cuộc tranh cãi chưa có hồi kết.
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, nhà văn Lãng Nhân Phùng Tất Đắc đã đề nghị đổi chữ "thu thanh" thành "trang thanh" (tiếng đóng cọc), nhằm đối "chỉnh hơn" với chữ "kiếm khí" (hơi gươm kiếm) của vế thứ nhất. Chữ "trang thanh", về mặt nghĩa còn dụng ý nhắc lại dư âm trận chiến đóng cọc gỗ tiêu diệt đạo đại thủy binh Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng của Hưng Đạo Đại Vương. Tiếp đó, trong bài viết đăng trên tạp chí Hán Nôm số 1 năm 1987, nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân cũng dè dặt hoài nghi chữ "thu thanh" và đưa ra đề nghị "đính chính" bằng chữ "thung thanh", cũng có  nghĩa là "âm vang cây cọc".
Ông cho rằng đôi câu đối, khi được khắc lên cổng đền đã bị ghi nhầm chữ "thung" ra chữ "thu". Lập luận chính của Nguyễn Quảng Tuân là: "Chữ "kiếm" đối với chữ "thung" chỉnh hơn là với chữ "thu", vì "kiếm" và "thung" đều là vật "cụ thể", còn "thu" chỉ là "trừu tượng" mà thôi". Ngoài ra, về âm đọc, chữ này được đọc bằng hai âm, đọc "thung" thì có nghĩa là đánh đập, đọc là "chang" thì có có nghĩa là cái cọc. Do đó, trong bài viết, Nguyễn Quảng Tuân đề xuất chọn cách đọc thành "chang thanh", sửa đôi câu đối thành:
Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí,
Lục Đầu vô thủy bất chang thanh
Bức xúc và gay gắt hơn, giữa năm 1995, trên tờ Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, nhà nghiên cứu Hoàng Hữu Xứng đã thẳng thắn đề nghị "đục bỏ đôi câu đối của Vũ Phạm Hàm trên cổng đền Kiếp Bạc, ngõ hầu tránh được một sai lầm đáng tiếc". Lập luận mà ông đưa ra là "đoán rằng Thám Hoa Vũ Phạm Hàm thì không sai, nhưng khi đọc cho thợ ngõa đắp chữ lên cổng đền, người thợ có thể đã nghe sai".
Chữ dùng đúng, theo ông chỉ là một trong hai, hoặc là "thung thanh", hoặc là "trang thanh", đều hàm nghĩa "âm vang cọc gỗ". Do gần giống về mặt âm, có thể người thợ đắp chữ đã nghe nhầm nên đắp chữ "trang", hoặc chữ "thung" thành chữ "thu", vừa không chỉnh đối, vừa rất… lạc nghĩa. Lập luận "nghe nhầm" này, trước đó đã được đưa ra bởi một bậc thức giả khác là Giản Chi.
Ông cho rằng: "Nếu là "thu thanh" thì sông nào chẳng có "tiếng thu" khi gặp gió lớn sóng to. Nếu là "thung thanh" thì chỉ có sông Bạch Đằng (Lục Đầu) mới có tiếng đóng cọc mà thôi" (chỉ  sự kiện Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán năm 939 và Trần Hưng Đạo đại phá Nguyên Mông năm 1288). Vả chăng, hai chữ  "thung thanh" cũng không hoàn toàn do những người có ý kiến bài xích chữ "thu thanh" sau này tự nghĩ ra. Nó đã đã được tìm thấy trong bài văn tế bằng chữ Hán vẫn thường đọc ở các đền thờ Trần Hưng Đạo vào ngày 20 tháng 8 Âm lịch hằng năm:
Sinh tiền bất hủ chi tâm, giang thung thu ngật,
Tủ Hậu lẫm như chi khí, hạp kiếm lôi minh.
Dịch nghĩa:
Khi còn sống, trái tim bất hủ, cọc giữa dòng sừng sững dưới trời thu.
Lúc đã mất rồi, lẫm liệt khí thiêng, kiếm trong tráp khua vang như sấm dậy.
Nhưng ý kiến chọn chữ "trang", chữ "thung" thay cho chữ "thu" lại được rất  nhiều người ủng hộ, trong đó có học giả An Chi với bài trả lời, giải thích cho độc giả in trên Tạp chí Kiến thức thức ngày nay vào cùng năm 1995, được in lại trong sách "Chuyện Đông chuyện Tây" tái bản nhiều lần.
Xem ra, phái ủng hộ "thung thanh" (hoặc "trang thanh") và "chê" chữ "thu thanh", hơn nửa thế kỷ qua quy tụ toàn những bậc thức giả tên tuổi lẫy lừng. Trong khi đó, phái cương quyết giữ lại chữ "thu thanh", tuy cũng quy tụ không ít tên tuổi, song tiếng nói bảo vệ và phản bác đều có vẻ yếu ớt, mơ hồ  và ít thuyết phục hơn. Những phát biểu này thường đơn lẻ và chỉ dừng lại ở mức "bàn", chưa thật sự đưa ra được nhiều lập luận thuyết phục một cách có hệ thống.
PGS - TS Nguyễn Minh Tường (Viện Sử học) đánh giá rằng nếu dùng chữ "thung thanh" thay cho chữ "thu thanh" thì đó "không còn là chữ nghĩa của bậc đại khoa" như cụ Thám hoa Vũ Phạm Hàm nữa. Tác giả Nguyễn Khắc Bảo, trong Thông báo Hán Nôm năm 1998 cho rằng từ "thu thanh" trong câu đối thì "thu" là mùa thu, với nghĩa hàm súc là để chỉ chiến tranh và đau thương tang tóc. Hiểu theo nghĩa này, "thu thanh" có thể hiểu là "tiếng đau thương, tang tóc", hoặc "tiếng binh đao" đối với "hơi gươm kiếm" ở vế trên tỏ ra khá chuẩn cả về chữ lẫn nghĩa.
Thực tế, chữ "thu thanh" hiểu theo nghĩa này cũng đã từng được nhiều người sử dụng. Tuy nhiên, khá hiếm hoi, dường như chúng tôi thấy chỉ có hai người, nhà Hán học Tảo Trang Vũ Tuân Sán trong bài "Lại bàn về "thu thanh" hay "trang thanh" (Tạp chí Hán Nôm số 2/13-1992) và PGS Sử học Tạ Ngọc trong bài "Kiếm khí - Thu thanh" trên Tuần báo Văn nghệ số 387 ra ngày 17-9-2000 là có đề cập thẳng vấn đề cốt lõi: "Tiếng thu là tiếng gió tây làm rụng lá vàng, ý nghĩa đặc biệt của nó được ghi ở bài phú nổi tiếng: "Thu thanh phú" (Phú tiếng thu) của Âu Dương Tu đời Tống".
Năm 1995, trong bài "Trao đổi với nhà nghiên cứu Trần Hữu Xứng" đăng trên Báo Văn nghệ, chúng tôi cũng đã đề cập đến và giải thích khá kỹ lưỡng điển cố "thu thanh" rút từ "Thu thanh phú" của Âu Dương Tu (1007-1072).
Chúng tôi cho rằng, dù sắc bén đến mấy, tác giả Hoàng Hữu Xứng (người gay gắt và bức xúc hơn cả) vẫn chưa chính xác khi dùng chữ "đoán rằng" trong một lập luận nghiên cứu. Việc "nghe nhầm", hiểu sai ý Vũ Phạm Hàm của người thợ ngõa mà dẫn đến đắp sai đôi câu đối, theo chúng tôi hoàn toàn không có khả năng xảy ra. Bởi lẽ, rất có thể, người thợ không nhất thiết phải biết chữ. Họ chỉ việc ngõa chữ theo văn bản đã được Vũ Phạm Hàm hay bậc túc nho văn hay chữ đẹp nào đó viết chữ sẵn, không cần biết mình đang khắc, ngõa chữ gì.
Mặt khác, nôm na thì công trình nào cũng phải có nghiệm thu. Nếu người thợ khắc, ngõa chữ có nghe nhầm chữ "thung" thành chữ "thu" thì hẳn sau đó, khi nghiệm thu, sai sót này đã được phát hiện và sửa chữa. Sai sót đó không có lý do để tồn tại thêm hơn 100 năm. Như vậy, nếu chữ "thu thanh" đã tồn tại trên đôi câu đối trước đền Kiếp Bạc, trước án thờ đền Trần Hưng Đạo ở TP Hồ Chí Minh, thì đích thực đó là chữ của Thám hoa Vũ Phạm Hàm với đầy đủ sự chính xác của nó.
Trong phần đầu bài "Thu thanh phú", Âu Dương Tu mô tả: "Dị tai! Sơ tích lịch dĩ tiêu táp, hốt bôn đằng nhi phanh vi; như ba đào dạ kinh, phong vũ sậu chí; kỳ xúc ư vật dã, thung thung tranh tranh, kim thiết giai minh; hựu như phó địch chi binh, hàm mai tật tẩu, bất văn hiệu lệnh, đãn văn nhân mã chi hành thanh".
Trần Trọng San dịch: "Lạ thay! Lúc đầu rì rầm, vi vu, rồi chợt sầm sập, mạnh mẽ, như sóng nước kinh động ban đêm, gió mưa thổi đến thình lình, chạm vào vật leng keng, loảng xoảng, tiếng vàng, tiếng sắt kêu vang, lại như đoàn quân tiến đến hàng ngũ địch, ngậm tăm chạy mau, không nghe thấy hiệu lệnh, chỉ nghe thấy tiếng người, ngựa đi".
Nghe những âm thanh đó, Âu Dương Tu chợt hiểu ra: "Dư viết: "Y hy! Bi tai! Thử thu thanh dã, hồ vi hồ lai tai! Tôi (Âu Dương Tu) nói rằng: "Than ôi! Thương thay! Đó là tiếng thu, sao lại vọng đến đây". Ở đoạn giữa bài Phú, Âu Dương Tu giải thích: "Phù thu, hình quan dã, ư thì vi âm; hựu binh tượng dã, ư hành vi kim. Thị vị thiên địa chi nghĩa khí, thường dĩ túc sát nhi vi tâm". Trần Trọng San dịch: "Thu là hình quan, nói về bốn mùa là âm; lại là binh tượng, nói về năm hành là kim. Đó là cái nghĩa khí của trời đất, thường lấy sự giết hại làm lòng".
Chúng tôi nghĩ rằng, vậy là đã rõ, chữ "thu thanh" không chỉ hiểu đơn thuần là "tiếng mùa thu", nhẹ và lạc nghĩa rất xa so với "hơi gươm kiếm". Trong cách luận của Âu Dương Tu thì "thu binh thỉ dã" (mùa thu tức là mùa binh vậy), chữ "thu thanh" điển cố rút từ "Thu thanh phú" cần được hiểu là "tiếng đao binh", đối rất sát với chữ "kiếm khí" (hơi gươm kiếm). Với một bậc đại khoa như Vũ Phạm Hàm, việc sử dụng nhuần nhuyễn một điển cố như chữ "thu thanh", hẳn nhiên không phải là quá khó, cũng không hề là việc xa lạ.
"Hơi gươm kiếm" đối với "tiếng đao binh", chữ nghĩa quá tuyệt vời. Một đôi câu đối đã tồn tại hơn trăm năm, đã góp phần tạo thêm một nét cảm thức dân tộc, thiết nghĩ không nhất thiết phải tốn giấy mực tranh luận, lại càng không nên vì sự suy diễn, phỏng đoán mà thay đổi hay đục bỏ. Đó cũng là cách "ngõ hầu tránh một sai lầm đáng tiếc" cho hậu thế vậy!         
                                      (Theo  Công An Nhân Dân)
 

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

Người đẹp đến nhà







Người đẹp lâu năm mới lại nhà
Vợ thì đi vắng chó xồ ra
Vội vàng xe đạp quay ngang chắn
Rối rít kêu cầu lớn tiếng la
Gia chủ loay đang cuốc xới
Áo quần xộc xch thoắt xông pha
Mỹ nhân vừa được anh hùng cứu
Thoát nạn thở phào rạng rỡ hoa.

26/10/2012
Đỗ Đình Tuân

Lượm lặt từ sổ ghi chép cũ 15




Yếm đũi

Có cô yếm đũi sang sông
Gió thì cả gió mà không thấy bờ
Vén váy cô lội để cho
Bắp chân lồ lộ sông lờ đờ say
Có cô yếm đũi ngủ ngày
Môi thèn thẹn đỏ má ngây ngây tình
Yếm cô gió lật rập rình
Ngực trăng như sáng một mình gió xem
Có cô yếm đũi thức đêm
Hát ghẹo hát đúm mải quên không về
Yếm cô gió trót mang đi
Cái người phải gió nó mê mẩn rồi
Có cô yếm đũi váy sồi
Sang sông để lại một trời gió say.
                                 2/2003
                       Nguyễn Việt Chiến
                (Tiền Phong, 180-9/9/2003)

1.Nghệ thuật lớn thường là ở sự giao cắt giữa hiện thực và tuyệt đối.
                                                        Hoàng Ngọc Hiến

2. Nghiên cứu, trên đại thể thuộc về khoa học. Phê bình, về cơ bản thuộc về nghệ thuật. Còn báo chí, dẫu là báo chí văn nghệ, kể cả những bài viết mang hàm lượng lý luận phê bình không nhỏ, cũng vẫn chỉ là báo chí.
                                                       Phạm Quang Trung

3. Tôi không đi tìm, tôi thấy. (Picasso). Thấy đây là cảm nhận, là tiên nghiệm, cảm quan, trực giác…Như vậy có thể nói rằng lúc đầu cảm tính, cảm giác, cảm quan luôn luôn khai trương cho việc đọc thơ, hiểu thơ và phê bình thơ. Hay dở nông sâu về tư tưởng nghệ thuật là thấy ngay khi bắt đầu đọc thơ.
                                                        Hoàng Trinh

4. Nhà phê bình phải tỏ thái độ trước cái hay, cái dở; cái sai, cái đúng; cái tốt, cái xấu. Phải gọi sự vật bằng tên của nó: sai thì bảo là sai, dở thì bảo là dở, hay thì bảo là hay, bởi phê bình luôn phải tỏ thái độ.
                                                        Trần Mạnh Hảo

5. Hiện nay tai họa lớn nhất của văn học là ngôn từ vô hồn, mệt mỏi và suy kiệt. Không có một thứ tình cảm nồng cháy nào, một sự tinh xảo nào của ngòi bút thay thế được ngôn từ, nó là máu thịt của văn học.
                                                       Grigrevich Raxputin

26/10/2012
Đỗ Đình Tuân

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2012

Trời vuông, trời méo *


Không tròn thì cũng phải chuông
Chứ đâu lại có “trời vuông” bao giờ
Tò mò xin hỏi nhà thơ
Cái khuôn “trời méo” bao giờ thì ra ?

*Xem Blog Thanh Dạ 23/10/2012

25/1/2012
Đỗ Đình Tuân

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Hằng mong






(Họa nguyên vận bài “Phấn trắng” của
Minh Huy: xem blog Thanh Dạ 23/10/212)

Hăm hở gõ đầu bọn trẻ con
Trẻ con khôn lớn sức ta mòn
Chòm râu mái tóc thêm mầu bạc
Da d thân hình bớt nét son
Dưỡng trí vẫn quen đèn với sách
Tu tâm thường dạo núi cùng non
Giầu sang phú quý đâu màng tới
Lương thiện hằng mong giữ đặng tròn.

24/10/2012
Đỗ Đình Tuân

Phụ chép bài mời họa:

Phấn trắng
Viên phấn trong tay nhỏ cỏn con
Trồng người, đạo lớn chẳng phai mòn
Tu tâm luyện trí lòng không mỏi
Mến trẻ yêu nghề dạ sắt son
Chẳng sợ nhân tình đen với bạc
Chỉ lo duyên nợ nước và non
Chân trời góc bể dù muôn nẻo
Lòng vẫn lung linh bóng nguyệt tròn.
                               
Minh Huy
 

(Cóp từ Blog Thanh Dạ sang)

Thứ Hai, 22 tháng 10, 2012

Vài hình ảnh cuộc gặp mặt Khóa Nguyễn Văn Trỗi

Người quay lưng lại là Đỗ Kim Hồi, người tóc bạc há mồm là Nguyễn Hồng Liên, người còn lại là cô Nguyễn Thị Lan (Hải Phòng) ở lớp B. Người đeo kính ngồi một mình là Phùng Minh Hiến.

Hà Học Hợi bắt tay Nguyễn Trọng Tân (Lớp B). Cô gái là Đinh Lê Dung cùng lớp D với Hà Học Hợi

Đinh Hồng Tơ, người dân tộc Cor, từ Công Tum ra cả hai vợ chồng

Người mặt quay ngang là Nguyễn Văn Long, các vị còn lại khác lớp


Chụp ảnh chung toàn khóa

Lớp Văn 3C có 3 người: người đeo máy ảnh là Vũ Xuân Túc, người áo đen cộc tay là Đỗ Kim Hồi, người áo trắng tiếp cạnh là Nguyễn văn Long.

Lớp Văn 3C có: Đỗ Đình Tuân, Lê Lương Hậu, cách một, Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Văn Long, cách một, Nguyễn Nghĩa Trọng

Nguyễn Yến Thu (lớp B), thành phố Hồ Chí Minh

Người vỗ tay là Vũ Phạm Thị Thăng, cao tuổi nhất hội (89 tuổi), lúc vào trường 39 tuổi, lúc ra trường 42 tuổi.
Thày Đoàn Trọng Huy phát biếu hội trường
Hà Học Hợi, Lớp Trưởng lớp D,Trưởng Ban liên lạc của khóa.


 Người hói đầu là Ma Tiến Thọ, 83 tuổi, người dân tộc tỉnh Cao Bằng(Lớp D)

DANH SÁCH LỚP "VĂN BA XÊ" ĐI DỰ CÓ:

1.Lê Lương Hậu (Thanh Miện, Hải Dương)
2.Phùng Minh Hiến (Như Quỳnh, Hưng Yên)
3.Đỗ Kim Hồi (Hà Nội)
4.Nguyễn Hồng Liên (Hà Nội)
5.Nguyễn Phúc Lộc (Phú Thọ)
6.Nguyễn Văn Long (Hà Nội)
7.Lý Thị Miện (Hà Nội)
8. Hoàng Nguyện (Hà Nội)
9.Đỗ Quý Nhân (Hà Nội)
10.Đỗ Thị Nhu (Hà Nội)
11.Đỗ Thế Nhung (Hà Nội)
12.Phạm Đình Phúc (Hải Phòng)
13. Vũ  Phạm Thị Thăng (Hà Nội)
14. Nguyễn Đình Thế (TP. Hồ Chí Minh)
15. Trịnh Văn Thênh (Hà Nội)
16. Đinh Hồng Tơ (Kong Tum)
17. Nguyễn Nghĩa Trọng (Hà Nội)
18. Đỗ Đình Tuân (Chí Linh, Hải Dương)
19. Vũ Xuân Túc (Hà Nội)

DANH SÁCH LỚP "VĂN BA XÊ" 50 NĂM TRƯỚC:

1. Huỳnh Chế
2. Hoàng Đình Chuật
3. Phạm Hữu Cư
4. Lưu Tân Cương
5. Nguyễn Duy Dự
6. Vũ Thị Dung
7. Nguyễn Viết Dũng
8. Trịnh Vũ Dũng 
9. Trần Điều
10. Lê Tiến Đức
11. Lê Lương Hậu
12. Phùng Minh Hiến
13. Nguyễn Mỹ Hòa
14. Đỗ Kim Hồi
15. Đặng Tuyết Huê
16. Nguyễn Thị Liên Hương
17. Nguyễn Tiến Khanh
18. Dương Đức Kiểm
19. Nguyễn Hồng Liên
20. Dương Thị Liễu
21. Nguyễn Phúc Lộc
22. Nguyễn Văn Long
23. Đinh Trọng Mại
24. Hoàng Miêng
25. Lý Thị Miện
26. Thành Thị Yên Mỹ
27. Phan Văn Ngân
28. Hoàng Nguyện
29. Đỗ Quý Nhân
30. Nguyễn Xuân Nhiên
31. Đỗ Thị Nhu
32. Đỗ Thế Nhung
33. Ngô Văn Phú
34. Phạm Đình Phúc
35. Trần Hồng Phụng
36. Phan Văn Phượng
37. Nguyễn Văn Quán
38. Ngô Vũ Ngọc Thạch
39. Võ Tử Thành 
40. Vũ Phạm Thị Thăng
41. Phạm Văn Thăng
42. Nguyễn Phương Thảo
43. Nguyễn Đình Thế
44. Huỳnh Thê
45. Trịnh Văn Thênh
46. Bùi Chí Thiện
47. Kiều Văn Thiều
48. Thái văn Thượng
49. Chu Ngọc Tính
50. Đinh Hồng Tơ
51. Nguyễn Phương Toàn
52. Nguyễn Ngọc Trác
53. Nguyễn Tấn Triệu
54. Nguyễn Nghĩa Trọng
55. Đỗ Đình Tuân
56. Nguyễn Văn Túc
57. Vũ Xuân Túc
(Chưa kể còn cô Trinh, người Nam Định, học được một thời gian chừng một học kỳ thì bđuổi vì lý lịch gia đình)
 
Ghi chú:

Đỗ Đình Tuân khôi phục lại danh sách này căn cứ vào bảng danh sách sinh viên khóa Nguyễn Văn Trỗi (1962-1965) in trong tập Kỷ Yếu "50 năm Khoa Văn, khóa Nguyễn Văn Trỗi, Đại học Sư phạm Hà Nội". Đỗ Đình Tuân có chỉnh sửa một số trường hợp cụ thể sau:
-Bổ sung 2 trường hợp không có tên trong danh sách:
          + Ngô Văn Phú
          +Thái Văn Thượng 
-Sửa mấy trường hợp ghi sai tên là:
          +Phạm Đình Phúc chứ không phải Phạm Đình Pháo
          +Đinh Trọng Mại chứ không phải Đinh Trọng Nại
          +Ngô Vũ Ngọc Thạch chứ không phải Nguyễn Vũ Ngọc Thạnh
          +Đinh Hồng Tơ chứ không phải Đinh Hồng Tư
-Bản thân Đỗ Đình Tuân còn nghi ngờ một số trường hợp cụ thể sau:
          +Hoàng Đình Chuật khi ấy vẫn gọi là Truật (?)
          +Nguyễn Thị Liên Hương của Văn 3C cao gầy đen, không giống như trong ảnh chụp (?)
          +Võ Tử Thành ( nghi tên là Thảnh, học sinh miền Nam, rất hay bỏ học) (?)
          +Nguyễn Phương Toàn Nếu là Toàn của Văn 3C thì là người Mường, Sơn La hay Hòa Bình gì đấy, là họ Hoàng hay họ Bùi chứ không phải họ Nguyễn.

Đến nay phần lớn hđã qua đời, họ chỉ còn lại cái tên trong bản danh sách này thôi. Nhưng đọc đến tên họ tôi vẫn hình dung ra h và nước mắt tự nhiên lại rưng rưng...

22/10/2012
Đỗ Đình Tuân

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2012

Danh nhân nho sĩ viết về Chí Linh 12 (tiếp)

Mộ Nguyễn Phi Khanh, thân phụ Nguyễn Trãi trên đỉnh núi Báo Đức, Chi Linh, Hải Dương
                                    

                              ÔNG LÊ TRÃI


          Ông Lê Trãi thuở tiên triều, hiệu là Ức Trai, nguyên họ Nguyễn. Cha là ông Phi Khanh làm chức Tự khanh, người huyện Phượng Nhỡn, thích phong thủy, nhân dời mả tổ tiên đến táng ở làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc rồi làm nhà ở đấy.
          Ông đỗ tiến sĩ đời nhà Hồ, làm quan đến chức Ngự sử đài Chánh trưởng. Nhà Hồ mất, ông theo ông Tự khanh lánh nạn ở Côn Sơn, có câu thơ: Dạ y Ngưu Đẩu vọng trung nguyên (đêm lần theo sao Ngưu, sao Đẩu trông về đất nước). Tấm lòng ưu thời mẫn thế thưng lộ ra ở những câu thơ vịnh.
          Bấy giờ người làng Hoắc Sa ở Sơn Tây là Trần Nguyên Hãn làm nghề bán dầu, buổi tối đi qua làng Thụy Hương, vào ngủ ở đền Hy khang đại vương Lý ông Trọng. Đêm hôm ấy, nghe thấy vị thần ở làng bên cạnh đến rủ vương cùng lên chầu đức Thượng đế. Vương từ chối là nhà có vị quốc công nghỉ trọ. Gà gáy vị thần ấy đi chầu về. Vương hỏi hôm nay Thiên đình bàn những việc gì, thần nói:
          -Thượng đế nghĩ nước Nam vô chủ nên có sai Lê Lợi làm vua, Lê Trãi làm tôi.
         Trần tỉnh dậy, bèn đi dò tìm được ông, rồi bảo cho ông biết. Ông đến hỏi lại thì chiêm bao thấy vương bảo rng:
         -Việc bí mật ở thiên đình, không dám tiết lộ. Chị Tiên Dung biết rõ cả đấy. Vả đàn bà nói thì Thượng đế ngài không qu trách. Nên đem một mâm vàng đến lễ, chị ấy sẽ kể cho mà nghe.
          Ông theo lời, đến cầu bà chúa Tiên Dung, chiêm bao thấy bà gọi bảo rằng:
          -Lê Trãi. Lê Lợi làm vua, Lê Trãi làm tôi, nhà ngươi còn chưa biết ư ?
          Hỏi kỹ thì nói Lê Lợi người Lam Sơn, đất Thanh Hóa.
        Ông bèn cùng ông Trần đi tìm, thấy Thái tổ đang mặc áo nâu ngắn, vác bừa xua bò từ ngoài ruộng về. Vào ở mấy hôm, nhân gặp ngày giỗ, Thái tổ giết lợn làm cỗ. Ông xuống bếp đun nấu. Thấy Thái tổ cầm dao cắt thịt, vừa cắt vừa ăn, ông bảo riêng với ông Trần rằng:
          -Bà Tiên Dung nói dối ta.
          Ông đến đòi vàng lại. Đêm ấy bà Tiên Dung lại bảo:
        -Lê Lợi làm vua, đã có lệnh nhất định rồi; chỉ có sao trên trời chưa giáng đấy thôi, sao không ở đấy mà chờ đợi ?
       Bấy giờ Thái tổ đã được quyển binh thư và thanh kiếm thần, đêm nằm đóng cửa đọc sách. Ông nhòm trộm, rồi cùng ông Trần đẩy cửa bước vào.
      Thái tổ tuốt gươm xông ra, hai người đều phục xuống nói: “Chúng tôi đường xa lận đận tìm đến, chỉ vì Minh công là người có thể làm chủ được thiên hạ đấy thôi”. Thái tổ cười mà lưu lại, mưu việc khởi binh. Ông bảo chưa nên vội. Bèn làm nhà dạy học. Ông chế ra những cái trống con và nấu mật đặc, nặn hình con gà, con chó, cho lũ trẻ làm đồ chơi. Trẻ thấy thế, đua nhau nói với cha đến xin theo học. Ông lại lấy mỡ viết khắp lên lá cây trong rừng “Lê Lợi vi quân, Lê Trãi vi thần” (Lê Lợi làm vua, Lê Trãi làm tôi). Sâu, kiến ăn mỡ đục thành nét chữ. Kẻ đi kiếm củi thấy thế cho là chuyện thần linh. Người nọ bảo người kia, nhân thế, theo về mối ngày một nhiều.
          Năm Mậu Tuất (1418) dấy quân. Trước sau đánh hơn hai mươi trận. Ông thường tham dự vào quân trướng bàn tính mưu lược. Năm Bính Ngọ (1426), đánh ở Tốt Động, quân ta đại thắng, tiến lên uy hiếp thành Đông Đô. Thành sơn hầu nhà Minh là Vương Thông đóng thành cố giữ.
          Năm Đinh Mùi (1427), vua Minh sai An viễn hầu Liễu Thăng, Kiềm quốc công Mộc Thạnh cùng tiến sang cứu Đông Đô. Thái tổ đánh nhau với giặc ở núi Mã Yên, chém chết Liễu Thăng, bắt sống bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc, hơn ba trăm người. Mộc Thạnh đương đêm phải chạy trốn, Vương Thông thì mở cửa thành ra hàng. Thái tổ tha cho được trở về bắc. Từ đấy hai nước thông hiếu, bao nhiêu giấy tờ đều do ông soạn cả. Khoảng năm Thiệu Bình 1, ông soạn bài biểu tạ thăng quan có những câu:
Viên môn thượng sách, lâm đại tiết nhi bán sinh trung nghĩa tự trì

Hổ khẩu điều thân, quyết hòa nghị nhi lưỡng quốc can qua dĩ tức
Nghĩa là: cửa quân hiến kế, đứng trước tiết lớn mà nửa đời trung nghĩa tỏ hay; miệng cọp dn mình, quyết hòa nghị mà hai nước can qua yên ổn.
          Đó là những lời đúng sự thực cả. Vì công lao ông được ban theo họ nhà vua, trao chức Vinh lộc đại phu, Nhập nội hành khiển, Tri tam quán sự.
          Ông Trần Nguyên Hãn sau được phong tước quốc công, khi mất được phong phúc thần. Nay có đền ở làng Hoắc Sa.
          Văn chương của ông có khí lực dồi dào. Khoảng năm Thuận Thiên 2 làm những bài văn như Bình Ngô đại cáo, bia thần đạo ở Vĩnh Lăng tại Lạm Kinh, …đều có chép ở sách Thực lục. Không cần phải thuật ra đây cho thừa nữa. Khoảng  năm Thiệu Bình nhà vua tặng bà chiêu nghi làm Hoàng thái phi, ông phụng mệnh thảo bài chế rằng:
          (Lược bớt phần phiên âm chữ Hán)
         
Nghĩa là:
          Trẫm nghĩ: Đối với đứng thân, trước nên hiếu kính.
        Giữ cái cơ nghiệp trải mấy gian nan mới dựng nên được của đức Cao Hoàng Đế, tất nhờ công siêng năng giúp đỡ của đức bà trong chốn khuê môn. Vậy phải tôn xưng hiệu lớn ở triều đình, để thỏa hồn linh thiêng ở nơi u tịch. Đức Bà Mỗ…cầm giữ đức tốt, trải thờ tiên triều, gặp buổi trời đất chông chênh , từng cùng đức vua tắm gội mưa gió. Nâng khăn sửa túi, vá áo khâu xiêm, một lòng không sai, mười năm chẳng thiếu. Đức Cao Hoàng từng trải những bước hiểm nghèo như vua Hán Cao, nào mây ráng ở Mang Đường, 3 nào gió cát ở Tuy Thủy 4; lại từng trải những đói khát như vua Quang Võ, nào cơm chiêm ở Hô Đả 5,  nào cháo đậu ở Lâu Đình 5, đều có Đức Bà chia sẻ và giúp đỡ cả. Rồi đến ngôi lớn được đặt vững, nhiều phần nhờ công Bà săn sóc sớm hôm. Đương khi Đức Mẫu hậu không may về giời, chính trẫm được nhờ đức bà dìu dắt. Nhớ đến công ơn ôm ấp, dám nhãng việc truy sùng.6 Vậy xét theo phép của nhà Thành Chu, tôn phong Bà làm bậc Thái phi, tỏ công phù trì, hợp lễ thương kính. Chao ôi áo xiêm dâng tiến vinh quang, chẳng cứ khi mất còn; nấm đất vun bồi, rực rỡ đến tận nơi vinh mạc 7.
          Khi tặng bà Chiêu Nghi làm Trinh Ý nguyên phi, ông phụng soạn bài chế rằng:
          (Lược phần phiên âm chữ Hán)
         
Nghĩa là:
          “Thánh nhân đặt lễ, đạo không gì trọng hơn là thân mến người thân, triều đình ra ân, nghĩa chẳng gì hậu hơn là quý trọng bậc quý. Vậy ban chế sách để làm sáng rọi cõi tối mờ. Đức Bà Mỗ…người vốn đng đắn, dịu dàng, đoan trang, chung thủy. Đương khi trời đất còn mờ tối, đã tỏ ra phong cách cần kiệm ở chốn cung vi. Khi ở núi Lam Sơn, lương thực gieo neo, từng nhờ lo chạy. Buổi ở trại Lẫm Lộ, áo xiêm rách rưới, vẫn cậy khâu may. Những nhớ đến công giúp rập Tiên triều, lại không quên đức bù trì tiểu tử. Buổi vừa bình định, người đã qua đời. Vậy tôn Bà lên hàng ba vị Hậu phi để tỏ sự vinh quý đặc biệt. Chao ôi, sinh nuôi dẫu khác, ân khôn cùng cũng vẫn như nhau, vậy dù lúc sống hay lúc thác, xin cũng che chở hộ trì cho mãi mãi”.
          Đó đều là những bài văn nghe rất khoái chá.
        Có lần ông bị lỗi phải hạ ngục, nhưng lại được tha ngay. Dần dần thăng lên đến Tả Gián nghị đại phu, kiêm Hàn lâm Thừa chỉ học sĩ, tước Tế Văn hầu. Tính ông điềm đạm có chí ẩn dật, thơ tặng bạn có hai câu:
          Thân ngoại phù danh yên các quýnh
          Mộng trung hoa điểu cố sơn tri.
        
Nghĩa là: Gác khói cao thm để ghi công, đó chỉ là cái phù danh ở bên ngoài, vẫn mộng thấy hoa nở chim kêu, điều ấy có núi xưa biết.
       Ông có biệt thự ở Kinh Bắc gọi là Tiêu Viên (tức Lệ chi viên). Cuối năm Thiệu Bình, ông lên đợi mệnh Bắc triều ở cửa Nam Quan. Bấy giờ Thái Tông đi Bắc tuần, ngự giá đến chơi Tiêu Viên, rồi đêm hôm ấy mất. Người ta bảo vợ ông là nàng Nguyễn Thị Lộ đã làm sự thí nghịch, vì thế ông mắc nạn, cả nhà không kỳ nhớn bé đều bị giết.
          Khi xưa, trong trận đánh quân Minh ở núi Mã Yên, quân ta bắt được thượng thư nhà Minh là Hoàng Phúc. Hoàng giỏi xem phong thủy, khi ở nước ta đi xem khắp các kiểu đất, có biên ghi cả. Đến nay, Hoàng Phúc bị bắt, vì là kẻ tù binh, nên ông không cần kính trọng. Hoàng cười bảo:
          -Mả tổ tôi có xá văn tinh 8, dù gặp nạn cũng chỉ trong trăm ngày mà thôi; không như mả nhà ông, có vận tru diệt.
          Ông không tin. Sau Hoàng được tha về, còn ông vì vợ mà phải tội. Người ta cho là ng nghiệm.
          Nay xét mả tổ nhà ông ở Nhị Khê, huyệt táng ở ruộng bằng phẳng, người thì cho là kiểu tướng quân mở cờ, người thì cho là kiểu tướng quân cụt đầu. Về phương Mùi có cái gò Rùa, đuôi phản lại. Trong bản kiềm kỳ của Hoàng Phúc nói rằng: “Nhị Khê mạch đoản, họa thảm tru di” chính là chỉ vào đấy.
          Đời truyền khi chửa hiển đạt, ông ở làng Nhị Khê dạy học trò, một hôm chỉ cái gò ngoài đồng bảo học trò rằng:
         -Ngày mai các anh dọn cái gò ấy để làm nhà học nhé!
       Bọn học trò vâng lời. Tảng sáng hôm sau, ông nằm chiêm bao thấy một người đàn bà đến nói:
        -Tôi mình yếu mà con còn nhỏ, xin hãy khoan cho ba ngày để tôi được dời đi nơi khác.
          Tỉnh dậy ông ra đồng xem, thấy học trò đã dọn xong rồi. Họ bắt được hai quả trứng, hỏi thì họ nói:
          -Vừa rồi thấy một con rắn, chúng con đánh nó cụt đuôi.
         Ông cầm hai quả trứng đem về cất. Đêm hôm ấy, giong đèn đọc sách, thấy một con rắn trắng leo lên câu đầu, nhỏ xuống một giọt máu đúng vào chữ đại 9 trên trang sách. Vết máu thấm xuống ba tờ giấy. Ông nghĩ ra mà rằng:
          -Nó sẽ oán ta đến ba đời sau.
        Trứng rắn nở được hai con, một dài một ngắn. Ông sai mang thả xuống sông Tô Lịch ở làng bên; Nay những rắn ấy làm thn sông.
      Khi hiển đạt, thường mỗi ngày ở triều đình về, qua phố Hàng Chiếu, ông gặp một người con gái có nhan sắc. hai bên dùng thơ đùa cợt, rồi ông yêu mến, lấy về làm thiếp. Trong năm Thiệu Bình, người ấy thường vào trong cung cấm. Vua Thái Tông cho giữ chức nữ học sĩ. Khi vua thăng hà 10, triều đình đem nàng ra tra hỏi. Nàng nói là ông xui. Vì thế ông phải tội, người con gái ấy hóa thành con rắn, bò xuống nước mất.
      Ông có một người thiếp chạy đến vùng Sơn Nam, ẩn ở nhà người, rồi sinh được một người con trai là Anh Võ. Mãi về sau nhà chủ mới biết người đàn bà ấy là vợ lẽ ông. Khoảng năm Quang Thuận, vua Thánh Tông lên nối ngôi, thương ông oan, truy tặng Thái sư Tuệ quốc công. Dò hỏi dòng sau, mới tìm được công tử đem về. Nhớn lên Anh Võ làm quan ở đài, ở sảnh rồi phụng mệnh đi sứ Trung Quốc  11. Khi qua hồ Động Đình, trên mặt nước xuất hiện một con rắn, rồi sóng gió nổi lên dữ dội. Ông khấn xin cho làm xong việc nước, sóng gió mới im. Khi đi chầu vua Trung Hoa về, đến hồ Động Đình, thuyền úp, chết đuối. Sau chết được truy tặng Thái sư Sùng quốc công.
          Trong năm Cảnh Hưng, làm sổ dân chính, triều đình bàn rút bớt ân trạch đối với những công thần khai quốc. Khi xem đến đạo sắc của ông, quan Thị lang bộ Hộ là Bảng nhãn Lê Quý Đôn xé đi mà nói:
          -Kẻ loạn thần tặc tử ấy, lại còn cáo sắc gì nữa!
          Nói chưa dứt lời thì đã nằm xuống ngủ lịm đi, thấy hai người lính bắt đem đến một nơi, chung quanh có đường bao vây, nhng cây cổ thụ đến hàng người ôm, trên điện có mấy chục cái ghế bành, hành lang phía hữu đặt một cái giường, trên giường ngồi một vị quan văn, đội mũ phốc đầu, mặc áo bổ phục (12*), hai bên tả hữu có những người hầu rất nghiêm trang. Lính điệu ông bảng nhãn vào, bắt quỳ xuống dưới thềm. Vị quan văn ngồi trên giường quát lớn:
          -Ta là Tế Văn hầu đây! Nhà ngươi là một gã tiểu sinh sơ học, sao dám càn rỡ xúc phạm đến bậc huân cựu của tiên triều. Tội đáng chết, không thứ được.
          Ông Bảng nhãn nín hơi không dám ngẩng mặt lên. Cạnh đấy có một viên, khăn áo chững chạc, nài xin hộ, lúc lâu, Tế Văn hầu mới nguôi mà nói:
          Công danh sự nghiệp của ta, cố nhiên không thèm so sánh với nhà ngươi . Duy ngày thường ngươi vẫn lấy khoa bảng kiêu căng, vậy thử về đọc bài Bình Ngô đại cáo ca ta, nếu văn ngươi có hay hơn thì xé sắc của ta cũng đáng. Tỉnh dậy ông Bng nhãn vội viết lại đạo sắc như cũ. Các công thần, nhân thế cũng không bị rút bớt ân trạch.
          Ôi! Ông là người có những công to như thế mà không giữ ni được mình, con cháu lại bị tru di hầu hết. Chó cỏ rồng đất 12, vẫn là mối than chung từ xưa đến nay. Đáng buồn vậy thay!

Ghi chú
1.Thiệu bình: tức niên hiệu vua Lê Thái Tông (1433-1442)
2.Thuận Thiên: tức niên hiệu vua Lê Thái Tổ (1428-1433)
3. Mang Đường: tên ngọn núi mà Hán Cao Tổ khi còn hàn vi hay ẩn náu
4.Tuy Thủy: nơi Hán Cao Tổ bị quân Sở vây, nhờ một trận gió bão tung cát mù mịt mới được giải vây và thoát nạn.
5. Hô Đà-Lâu Đình: những nơi vua Quang Võ hết lương thì được Phùng Dị dâng cơm chiêm và cháo đậu.
6.Truy sùng: tôn kính sau khi chết
7. nơi vinh mạc: chỉ cói âm phủ
8. Xá văn tinh: sao cứu mạng
9. đại: đời
10. Thăng hà: chết
11. Theo thế phả họ Nguyễn ở Nhị Khê thì con Anh võ là Nguyễn Tổ tạc (cháu đích tôn Nguyễn trãi), đậu tiến sĩ năm Kỷ mùi (1499) làm quan Thừa chính sứ đạo An Bang, đi sứ Trung Quốc chết đuối ở hồ Động Đình, chứ không phải Anh Võ

12 *Áo bổ phục: Áo có miếng thêu đính vào đằng trước và đằng sau (áo có thêm miếng thêu)
12. Chó cỏ, rồng đất: đời xưa cúng tế thường tết chó cỏ, nặn rồng đất để cúng, cúng xong thì vứt đi. Vì thế người ta thường lấy chó cỏ, rồng đất để ví người hay vật, khi không được người ta cần dùng đến nữa, cũng giống như những công thần bị nhà vua bỏ rẻ khi đã hoàn thành sự nghiệp.


          (Theo bản dịch "Tang thương ngẫu lục" của Trúc Khê Ngô Văn Triện)

21/10/2012
ĐỖ Đình Tuân

SINH NHẬT LẦN THỨ 3 BÉ THẢO CHI 08/08/2026

 08/08/2026 Đỗ Đình Tuân